Đêm bạn ghé thăm | Anna Akhmatova

A poem by Anna Akhmatova
Translators: Lê Vĩnh Tài & Sấu Mã

ĐÊM BẠN GHÉ THĂM

NIGHT VISIT

CHUYẾN VIẾNG THĂM BAN ĐÊM

“Những cây cột điện đã ra đi, và không ai còn quay lại”

Bạn sẽ không chờ đợi trên một con đường rải nhựa
Hay phủ đầy lá bay bay
Nhưng trong các bài hát chậm và buồn adagio của gã nhạc sĩ thiên tài Vivaldi
Một lần nữa chúng ta sẽ gặp nhau

Những ngọn nến sẽ leo lét ngọn lửa mù mờ
Màu vàng bỏ bùa vào giấc ngủ
Sẽ không ai cúi đầu hỏi làm thế nào bạn đến
Để khư khư giữ giấc ngủ của tôi
Trong những lời than thở, chết người và thầm lặng
Chúng ta sẽ trải qua một giờ hoặc hơn thế nữa
để tha hồ mà mơ

Bạn, tất nhiên, sẽ săm soi lòng bàn tay tôi
Những chỉ tay vẫn rối tung như trước
Và rồi nỗi lo lắng vô cùng
Mà bây giờ là số phận của bạn
Sẽ dẫn bạn vào lòng của biển khơi băng giá
Xa cả tôi và căn phòng của tôi

[Lê Vĩnh Tài]

“Everyone left, and no one came back.”
You won’t wait on a path that’s asphalty,
Or in a leaf-covered street.
But in some adagio by Vivaldi
Again we’ll meet.

The candles will show a dim yellow flame,
Bewitched by sleep,
But the bow won’t ask how it was you came
To my midnight keep.
In lamentation, deadly and calm,
We’ll pass an hour or more,

You, of course, will read in my palm
Such wonders as before.
And then that great anxiety
Which is now your doom
Will lead you into the icy sea,
Far from me and my room.

Tất cả ra đi, và không ai trở lại

Muốn về trên đường nhựa đầy lá rụng
Người sẽ phải đợi lâu.
Giờ ta gặp nhau
Trong giai điệu Vivaldi dìu dặt.
Cây nến tỏa ánh vàng ủ dột
Giam mình bằng giấc ngủ mê,
Chiếc mã vĩ không hỏi người đã về bằng cách nào kia
Trong ngôi nhà nửa đêm của tôi u uẩn.
Theo âm điệu muộn sầu
Nửa tiếng đồng hồ trôi qua lặng lẽ,
Người đã đọc từ lòng tay tôi
Điều lạ lùng như thế.
Và khi đó sự bất an,
Vốn làm thành định mệnh của người
Đưa người rời bậc cửa nhà tôi
Trong làn buốt giá.

[Sấu Mã]
10-13 tháng Chín, 1963
Анна Ахматова (1889-1966) qua nét cọ của Юрий Анненков (1889-1974)


Anna Akhmatova [1889–1966}, Anna Andreyevna Gorenko, better known by the pen name Anna Akhmatova, was one of the most significant Russian poets of 20th century. She was shortlisted for the Nobel Prize in 1965 and received second-most nominations for the award the following year.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Sấu Mã, the poet is a retired professor living in Vietnam.

chú chim xanh | Charles Bukowski

Gái Xuân, by Đinh Trường Chinh

A poem by Charles Bukowski
Translator: Lê Vĩnh Tài

Bluebird

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng đời nào tôi chịu
tôi nói, ở yên đó, tôi sẽ không để cho ai đó nhìn thấy


có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng tôi đổ rượu whisky lên đầu nó và hít một hơi
thuốc lá
nên những người đàn bà và những người pha chế rượu
những nhân viên bán hàng tạp hóa
không bao giờ biết
nó ở trong tim tôi.

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng đời nào tôi chịu

tôi nói,
nằm xuống đi, mày muốn lộn xộn à?
hay mày muốn làm hỏng việc?
mày muốn thổi bay doanh số bán sách của tao ở châu Âu?

có một con chim xanh trong trái tim tôi
nó muốn thoát ra
nhưng tôi thừa biết, tôi chỉ thỉnh thoảng vào ban đêm
khi mọi người đã ngủ.

tôi nói, tao biết mày đang ở đó,
vì thế mày đừng buồn.

sau đó tôi bắt nó quay lại lồng ngực tôi,
cho nó hát một chút
tôi không cho phép nó chết

và chúng tôi vẫn ngủ cùng nhau như thế

những điều đó
với chúng tôi là hiệp ước bí mật
và nó đủ để làm một người đàn ông
khóc, nhưng tôi không
khóc, còn em
thì sao?

there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too tough for him,
I say, stay in there, I’m not going
to let anybody see
you.
there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I pour whiskey on him and inhale
cigarette smoke
and the whores and the bartenders
and the grocery clerks
never know that
he’s
in there.

there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too tough for him,
I say,
stay down, do you want to mess
me up?
you want to screw up the
works?
you want to blow my book sales in
Europe?
there’s a bluebird in my heart that
wants to get out
but I’m too clever, I only let him out
at night sometimes
when everybody’s asleep.
I say, I know that you’re there,
so don’t be
sad.
then I put him back,
but he’s singing a little
in there, I haven’t quite let him
die
and we sleep together like
that
with our
secret pact
and it’s nice enough to
make a man
weep, but I don’t
weep, do
you?


Charles Bukowski [1920-1994] là một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Ông được xuất bản lần đầu tiên ở độ tuổi 20, nhưng đã từ bỏ việc viết nghiêm túc cho thế giới công việc và quán bar. Anh ấy đã dành rất nhiều thời gian để chuyển từ công việc này sang công việc khác, sống trong những ngôi nhà chia phòng từ bờ Đông sang bờ Tây trước khi gia nhập Bưu điện Hoa Kỳ ở Los Angeles. Cuộc sống của ông vào thời điểm đó giáp với sự điên loạn và cái chết, hai chủ đề phổ biến trong tác phẩm của ông.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Bia Mộ | Merrit Malloy

Rain in the Old Quarter, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Merrit Malloy
Translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm

khi tôi không còn nữa
những dấu vết còn lại
là tôi hãy mang nó
cho những hài nhi những
người đàn ông cuối đời
đang đợi ngày về đất.

và nếu bạn cần khóc
hãy khóc cho anh em
bạn đang đi ngay cạnh
và khi cần tôi hãy
ôm vai người kế bên
hãy trao cho họ những
gì bạn muốn gửi tôi.

tôi muốn để lại cho
bạn gì đó hơn những
âm thanh hay là chữ.

hãy tìm kiếm tôi trong
những người tôi đã biết
đã yêu và đã nhớ
và nếu bạy không có
thể buông tôi ra hay
cho tôi đi thì hãy
cho tôi xin sống lại
trong cặp mắt bạn không
trong hộp xọ bạn nhé.

bạn yêu tôi nhiều nhất
khi bạn để bàn tay
mình nghe da thịt bạn
mong muốn da thịt khác
và cho những đứa trẻ
sự tự do của chúng.

tình yêu luôn còn mãi
dù tôi không còn nữa
nên khi còn lại chỉ
là tình yêu của tôi
thì xin bạn hãy mang
tôi, hãy cho tôi đi.

When I die
Give what’s left of me away
To children
And old men that wait to die.

And if you need to cry,
Cry for your brother
Walking the street beside you.
And when you need me,
Put your arms
Around anyone
And give them
What you need to give to me.

I want to leave you something,
Something better
Than words
Or sounds.

Look for me
In the people I’ve known
Or loved,
And if you cannot give me away,
At least let me live on in your eyes
And not your mind.

You can love me most
By letting
Hands touch hands,
By letting bodies touch bodies,
And by letting go
Of children
That need to be free.

Love doesn’t die,
People do.
So, when all that’s left of me
Is love,
Give me away.


Merrit Malloy sinh ngày 18 tháng 9 năm 1950 tại Pennsylvania, Hoa Kỳ. Cô là nhà sản xuất và biên kịch, được biết đến với Carrie (1976), Valentine (1979) và Forever (1978). Trước đây cô đã kết hôn với Paul Monash.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

People have all kinds of opening | Tạ Xuân Hải

A poem in Vietnamese by Tạ Xuân Hải
Translation and photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

People have all kinds of opening
Minty to shitty, smart to unbecoming
The words twisted unrecognisable: truths
Alley cats with their mouths open: lawless
Silence is a virtue: learn it off by heart
Choose the right words: please and thank you
See a therapist for your delusions of grandeur
Because “the dildo of consequences seldom arrives lubed”


Thiên hạ phân ra lắm loại mồm
Những thơm cùng thối, dại cùng khôn
Người ngay uốn lưỡi: đường đoan chính
Kẻ tà mở miệng: thói du côn
Im lặng là vàng: lòng nhớ thuộc
Lựa lời mà nói: dạ nên ôn
Cái bệnh vĩ cuồng mau chữa, kẻo
Lại bị chửi cho: thứ mặt… dày :))



Tạ Xuân Hải, the poet and  YouTuber is a native of Ma Thanh commune, Yen Thanh district, Nghe An province.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

WITH Kafka | Trương Đình Phượng

A poem in Vietnamese by Trương Đình Phượng
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

WITH Kafka

CÙNG Kafka

his case concludes
at a fortress of freedom
the pain he had to endure
turns into the kisses of immortality
we conclude our life
as a faulty version
in an afternoon as still as the lotus state of the wind

so in the tomorrow to come
in the thousandth sloppy version of ourselves
will we find ourselves
like the last verse of a hymn?

March 2023

gã đã kết thúc vụ án
tại một lâu đài xiềng xích tự do
nỗi đớn đau gã hằng cam chịu
hóa thân thành những nụ hôn bất tử
ta kết thúc đời ta
như một phiên bản lỗi
giữa buổi chiều lịm tắt cơn tọa thiền của gió

và mai kia
trong muôn ngàn bản sao loang lổ
người đời liệu có tìm thấy ta
như khúc thánh lễ sau cùng?

2017


Trương Đình Phượng, the poet and writer born in 1984, currently lives in Nghệ An, Việt Nam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Water | Xuân Diệu

Nguyễn Thị Phương Trâm in Seoul, South Korea, April 2014

A poem in Vietnamese by Xuân Diệu
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

You gave me water
And I turned it into wine
A spirit of boundless desire
Warm fragrant sake divine

Brewing hunger in your eyes
In these waters I will hide
Our breath
The consummating spirit

In this water I will add thus far
My spirit, laughter
Shimmering stars
Watchful blue sky

Ah! Water that will quench my passion
Since the dawning of life
This splendid life
Infinitely pours

Again I would like to raise my glass
Drink darling if you dare
But take it easy, not all of it
Otherwise you’ll be knocked out yeah

Chén nước

Em cho anh chén nước,
Anh biến thành rượu nho
Rượu triền miên mộng ước
Rượu nồng nàn thơm tho

Cái men trong mắt em
Anh để vào chén nước;
Hương hơi thở của mình
Đã hoá thành rượu chuốc

Anh thêm vào chén nước
Rượu cất của hồn anh,
Rượu cười sao lấp lánh
Như ánh mắt trời xanh

Ôi! Chén rượu ân tình
Từ bình minh sự sống
Rót mãi tới vô cùng
Của cuộc đời lồng lộng

Anh lại nâng chén nước
Mời em nhắp môi cho
Em ơi, đừng uống hết
Kẻo say chết bây giờ

—–
(Sài Gòn – Mĩ Tho 17-8-1975)


Xuân Diệu (2/2/1916 – 18/12/1985) born Ngô Xuân Diệu, Trảo Nha was another pen name, from Trảo Nha village, Can Lộc district, Hà Tĩnh province, but he was born in his mother’s hometown Hoà Phước commune, Tuy Phước district, Bình Định province, where his father Ngô Xuân Thọ worked as a teacher and where his father met his mother Nguyễn Thị Hiệp. he lived in Tuy Phước till he was 11 years old(1927) before moving to Quy Nhơn for school. Around 1936-1937, he attained his baccalaureate in Huế. In 1937, Xuân Diệu studied Law in Hà Nội while he wrote for a newspaper, between 1938-1940 inclusively he was a member of Tự lực văn đoàn, in the same period shared an attic with Huy Cận at 40 Hàng Than.

source: thivien.net

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ant tomb | Trần Băng Khuê

A short story in Vietnamese by Trần Băng Khuê
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Published on LatinosUSA

1.

He hates ants.

All species, the entire family of formicidae.

Black ants, red ants, big ants, small ants, clawed ants, pharoah ants.

People come up with wonderful ways to elevate “virtue”, like how ants are diligent and hard working. In general, they use such metaphors to dignify their virtue. Ants, naturally are noted in paragraphs, in literature. Ants, the formicidae family, a topic he is beginning to find rather nonsensical and irrelevant, a boring and lazy way to teach and convey the aptitude of morality.

He hates ants.

They are everywhere and they come in hordes, armies of them line up in a row each time they find a feast. Then again, that is not the real reason he finds them detestable. There are a few other reasons. Though, rather unfounded. To put it simply, he finds them a bother. Their existence in hordes is not unlike the way people are racing each other to populate the earth. People find him mumbling constantly something like, “How is it possible that they are everywhere?”. He finds them in every hole in the house, in the cracks of the wall, on the window sill. They even make themselves available around the latches and key holes.

They can be found in every corner and alley way. Even on the termite nests formed overnight after the rain. He would watch the few ants stray from their colony, swinging precariously, crawling around slowly on his arm, eyes, and nose. Not once were they afraid. Upon nightfall, before he goes to sleep, he has the unusual habit of using a torch to check for ants on his blanket and tatami mat. He is rather relaxed when he is doing it, he’s not out to kill the small petty creature the way he would mosquitoes. Patiently. He would gently coax them onto his hand before releasing them on the ground. He is fascinated by the painting of An Ant Tomb sitting in the dark. Painting is his way of retaliating against the existence of the pesty creatures in his life. A maze reserved for the ants. The maze has the shape of a round tomb – deep, with lots of caves and caverns, endless turns and tunnels, but without a way out.

Sometimes, he would find the ants congregating in groups, they would carry the dead mosquitoes he had killed and thrown on the floor, marching like battalions of soldiers. As though they were performing some kind of sacrifice. The dead mosquito is the ants offering. To them, he is lazy, useless and wasteful. More than often he would find them picking on him. They crawl all over his hand, onto his face, into the dark and hidden places on his body, to simply bite him gently out of their affection for him, so he can at least acknowledge their existence. The mosquitoes entertain no such thing. They crave blood. And when he is on the attack, there is no holding back. Plus, blood is their sustenance. And blood sucking creatures are not his concern. Since he knows they do not discriminate, they do not care where the blood comes from. Though, they, these blood sucking mosquitoes, he’s pretty sure that: “They would choose the most pungent blood to hunt down first”.

2.

Before he knew it, ants became his obsession, his concern. Not necessarily are those mosquitoes. Even though, the mosquitoes were the ones on a constant hunt for what is red inside his body daily with the dark.

3.

He was in the middle of painting a horde of ants, (the whole formicidae family and the caverns in the ground). There was a sudden knock on the door. He couldn’t be bothered standing up. There is nothing he finds fascinating about interacting with people. The knocks on his door were steady and constant but grew louder. He refused to move from his spot. But his curiosity grew. He thought about who the person might be out of all the people he knew. No one was close to him enough for him to bother about. He has no energy to entertain people beyond his personal space. The knocks on the door became more urgent the third time. He moved his arm in the motion of utter exhaustion, chucking his paintbrush on the floor. He opened the door. A rather eccentric being seemed to have fallen out of the sky was right there at his doorway. It has the body of a person, clearly, but its head is that of an ant. Long whiskers and glasses. In the formicidae world, it has to be some kind of Professor. He stared at the eccentric creature. The creature studied him from head to toe. Before the Ant person proceeded to push him aside and enter his house. It walked toward the painting of the ant maze. It opened its mouth, its hairy ant finger pointed at the painting asking, “Is this where we will live, at the heart of darkness?”.

“At the heart of darkness”, as he repeated what the Ant person had said and thought about what he was trying to build, create a piece that could permanently bury the ants, to satisfy his frustrating dark desire. On the other hand, he understood that he was Human – not Ant. Humans are greedy. As for his desire? Now and then creating a tomb in a painting turned him on. He will bury the ant species in it. Then the cockroaches, rats and mosquitoes. Such disgusting creatures should be eliminated from such a beautiful world. The Ant person was quiet, its whispers were like the sound of the wind in his ear, “what will happen when all living things turn into human beings?”

He turned to look at the Ant person in the face. The Ant person, within that very moment, had disappeared. And the disappearance did not bother him. All he cares about is whether it is there or not? He dropped his brush after another glass of wine. He stared and stared again at his painting. He had no control then over his faculty. He had been drinking before he had even started on the painting, at “the heart of darkness” of the Ant tomb. He finds himself meandering the tiny caves, going in and out, turning left and then right inside a maze without an exit to escape danger. But at that very moment, the Ant person appeared, chasing him out of the heart of darkness. He screamed: “I will imprison all of you in here. And we’ll see how diligent, and hard working you will be, before you can find your way out?”. Then he thought, might as well, and it could be fun to throw a dead mosquito here and there in there for a nice plot twist. In his heart he hated the ants. But, if he were to really give it more thought, he finds that, he was more excited about killing all those mosquitoes.

He tried to sober up, tried to concentrate. He finds himself standing in front of an unfinished painting of a tomb. Nothing but a painting with ants lining up in a row, marching around a spot of undefined colour of the soil. Without much thought he reached out and grabbed the clc electric racket with a three-month battery life, with no warranty and waved it up and down. The dead mosquitoes constantly fell to the ground. Exciting the ants not in the painting. They aligned in rows, getting themselves into formation right in front of him. The ants in the paint stopped moving, they stopped crawling. He saw the human body with the ant head raised its feather duster, like a conductor of an orchestra. The ant from the heart of darkness formed two lines like performers on a stage. And it was not long before he felt his body was being sucked into a giant painting of a tomb. An entire world of ants surrounded him.

4.

Once, he had dreamed about his glorious death. He saw his body being carried away by a horde of ants like he was their sacrifice. And at the head of the procession was the Ant person marching grandly to the sound of music just for ants.

5.

Winter came as a surprise to his sparsely decorated room. He was barely alive. There were no ants to take him anywhere. Rather, it was the opposite, he was surrounded, battling, trying to defend himself from being the target of the mosquitoes. Because his blood was pungent and intoxicating.

He more than understood, he thought about ending such a lonely existence. He tried to kill himself. He tried to find the meaning tucked between what is there and what is not. What is the meaning of passion? Creativity? There was nothing he found interesting, ultimate high in this life. It’s at least fortunate that he can paint. Something to do, to kill time. He has to paint, he has to finish whatever he had started. He hates people who are not committed. Like how he has to finish the painting of the Ant Tomb. He looked deeper into the heart of darkness, the ant caves and caverns, the painting was a mess. He was unsatisfied with the colour of the tomb. While the mosquitoes continued to attack his skinny malnourished body.

6.

The sunrise round and just right peaked over the top of the mountain, and perched there right on top of the holey canopy. The farmers heading out on to the fields discovered the hordes of ants, lots and lots of ants. Big and small, ants the colour of cockroaches, red and black ants, or armies of tiny pharoah ants. They all line up, row after row, line after line, marching down the well worn path. A couple of curious spectators followed them. Then, people were shouting, wide eyes, witnesses to a terrifying death none of them had ever seen before. A dry and shrivelled dead body in the middle of a painting of an ant tomb. The hollow of his eyes, like a maze, was full of ants. And, dead mosquitoes with their fat bellies full of blood, spattered all around him. Some of the mosquitoes were so full they couldn’t fly, their suckers still pinned on the dead body.

The daily herald published a rather short article about the strange and mysterious death of a man with long hair who lived behind a grove at the foot of the sacred mountain. The people who lived in the surrounding part of the forest were adamant that, the rather eccentric painter had violated a forbidden domain of spirits. And, hence, he must die.

That part of the forest shrivelled up through the chill. The turn of the seasons. 

People who work in the fields in the highlands, still cut through the same worn path to head up the mountain to seed the land. But, this year, no one amongst them cares for the harvest. Now and then, they feel as though they were lost in a maze the shape of the ant tomb in the painting by the artist who had died.

Truyện ngắn

Mộ kiến

1

Gã ghét kiến.
Tất cả các loại, họ nhà kiến.
Kiến đen, kiến đỏ, kiến nhỏ, kiến to, kiến càng, kiến gió. 

Người ta vẫn thường phác thảo những lời hoa mĩ để tụng ca về “đạo đức”, về sự cần cù, chăm chỉ của loài kiến. Chẳng qua, họ muốn bóng gió, ẩn dụ về đạo đức của chính mình. Kiến, hiển nhiên bước chân vào từ chương, chữ nghĩa. Kiến, bọn nhà kiến, theo như gã nhận thấy, chúng bắt đầu biến thành đề tài lảm nhảm với những câu chuyện kể mang tính chất khuyên răn mốc thếch, dạy dỗ nhàm chán. 

Gã ghét kiến.
Chúng rất đông và thường kéo bầy đàn xếp thành từng hàng dài mỗi khi phát hiện được miếng mồi ngon. Cũng không hẳn vì thế mà gã ghét kiến. Còn vài lí do khác. Dẫu, khá ngớ ngẩn. Gã chỉ nghĩ đơn giản rằng, chúng thật quá phiền phức. Sự tồn tại đông đúc của chúng hệt như muốn đua chen với cuộc chơi gia tăng dân số của thế giới loài người vậy. Gã thường lẩm bẩm tự hỏi, “tại sao chúng có mặt ở khắp mọi nơi nhỉ?”. Gã thấy chúng ở trong hốc nhà. Bờ tường. Trên gờ cửa sổ. Ngay trong lỗ khóa chốt cũng có sự hiện diện của chúng.

Chúng ở khắp mọi hóc hẻm. Ngay cả trên những tổ mối vừa ụ đất lên khi trời mưa. Gã đã từng thử quan sát và cho phép vài con kiến lạc đàn, hồn nhiên đánh đu, nhích chân từ từ trên cánh tay, trên mắt, trên mũi gã. Chúng không hề sợ sệt. Nhiều đêm xuống, trước khi đi ngủ, gã thường làm cái công việc kỳ quặc là soi mắt trên chăn chiếu để tìm kiến. Những lúc này, lòng gã mềm lại, gã không làm cái việc sát sinh giống loài bé nhỏ phiền phức ấy như những con muỗi. Gã nhẹ tay hết sức có thể, và bắt chúng thả xuống đất. Một cách kiên nhẫn. Gã vẫn đang nghĩ nhiều đến bức tranh Mộ Kiến trong lòng tăm tối. Bức tranh là thứ gã trả đũa sự có mặt của những loại sâu bọ đã làm phiền đến cuộc sống riêng tư của gã. Mê cung dành riêng cho loài kiến. Mê cung có hình nấm mộ tròn – sâu, rất nhiều hang, vô số ngã rẽ, nhưng không có lối ra.

Có lần, bất ngờ, gã phát hiện ra bọn kiến rủ rê nhau, kéo thành từng nhóm một khiêng xác những con muỗi gã vừa vứt xuống nền nhà bóng loáng đi lang thang như hành quân. Tưởng chúng đang chơi trò tế lễ. Xác muỗi là vật tế của bầy kiến. Gã chỉ là một con người nhàm chán thừa thãi đối với chúng. Dăm bận, gã cũng bị chúng trêu đùa, tấn công. Chúng bò lổm ngổm trên tay gã, trên mặt gã, trên tóc gã. Gã lặng im. Chúng lấn lướt, luồn sâu vào mọi ngóc ngách trong người gã, kể cả những nơi sâu kín nhất, chỉ để cắn một phát nhẹ nhàng giao lưu chơi vậy, để gã biết sự tồn tại của chúng trên thế gian này. Những con muỗi chắc hẳn không thích đùa giỡn kiểu đó. Chúng thèm máu. Và một khi đã tấn công, thì không nhân nhượng. Dù sao máu cũng là thức ăn của chúng. Gã không đề cập đến các thể loại máu. Vì gã biết, chắc chắn, bọn muỗi sẽ chẳng trừ ra đối tượng máu nào. Nhưng, chúng, những con muỗi thèm máu ấy, gã dám chắc: “Chúng sẽ lựa loại máu thơm nhất để bắt đầu cuộc đi săn”. 

2

Kiến bất giác trở thành nỗi ám ảnh và quan tâm của gã. Không hẳn phải là những con muỗi. Dù rằng, muỗi là thứ quái vật vẫn thường xuyên làm cuộc đi săn màu đỏ trong người gã mỗi ngày cùng với bóng tối. 

3. 

Gã đang vẽ dở dang bức tranh về bọn kiến, (cả họ nhà kiến và những cái hang trong lòng đất). Đột nhiên ai đó gõ cửa. Gã không buồn đứng dậy. Cuộc giao tiếp với thế giới con người chẳng khiến gã động lòng vui thích gì. Tiếng gõ vẫn tiếp tục vang lên, chầm chậm. Gã dứt khoát không rời khỏi vị trí. Nhưng gã khá tò mò. Gã nghĩ qua về những con người gã quen biết. Chẳng có ai thân thiết. Gã không hứng thú giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tiếng gõ dồn dập hơn lần thứ ba. Gã uể oải quẳng cây cọ xuống nền. Gã mở cửa. Một kẻ lập dị từ trên trời rớt xuống đang đứng trước cửa nhà gã. Thân người, rõ ràng, nhưng đầu có hình dáng con kiến. Râu mép dài và đeo cả kính. Trong thế giới loài kiến, hẳn phải gọi thứ lập dị này là Giáo sư kiến chứ chẳng chơi. Gã nhìn chằm chằm vào kẻ lập dị. Kẻ lập dị nhìn gã từ đầu đến chân. Sau đó Người Kiến tự nhiên đẩy gã sang một bên và bước hẳn vào bên trong căn phòng. Hắn bước về phía bức tranh mê cung của loài kiến. Hắn mở miệng, những ngón tay kiến đầy lông thò ra chỉ trỏ vào bức tranh, và hỏi, “chúng tôi sẽ ở trong lòng tăm tối này sao?”.

“Trong lòng tăm tối”, Gã nhắc lại lời của Người Kiến và nghĩ về việc gã đang nhen nhóm xây dựng, tạo tác một tác phẩm để chôn cất vĩnh viễn lũ kiến, hòng thỏa mãn sự ức chế cá nhân gã. Mặt khác, gã biết mình là Người – không phải Kiến. Loài người vốn dĩ đầy tham vọng. Tham vọng của gã là gì nhỉ? Thinh thoảng tạo ra vài nấm mộ trong tranh khiến gã phấn khích. Gã sẽ chôn vùi loài kiến trong đó. Rồi sẽ đến gián, chuột và muỗi. Những sinh vật gớm guốc ấy nên biến mất khỏi thế giới tươi đẹp này. Người Kiến im lặng, sau đó thì thào như gió thoảng qua tai gã, “khi các loại sinh vật tiến hóa thành con người, không biết chuyện gì sẽ xảy ra?”

Gã quay sang nhìn trực diện. Người Kiến, bất giác biến mất. Gã không bận tâm đến sự biến mất đó. Mọi thứ tồn tại đối với gã chỉ là có và không? Gã buông cọ sau cốc rượu tiếp theo. Gã nhìn chằm chằm trở lại vào bức tranh. Gã không thể kiểm soát tình trạng tinh thần của mình lúc này. Gã đã có uống một chút rượu trước khi vẽ. Gã có cảm giác mình bị lạc vào chính bức tranh, vào “lòng tăm tối” của nấm mộ Kiến. Gã đang đi quanh những cái hang rất nhỏ, có nhiều lối rẽ như một mê cung không cửa thoát hiểm. Nhưng ngay lúc ấy, Người Kiến lại xuất hiện và xua đuổi gã ra khỏi lòng tăm tối. Gã gào lên: “Tao sẽ nhốt hết chúng mày vào đây. Để xem, sự cần cù, kiên nhẫn liệu có đủ sức tìm được lối ra chăng?”. Gã gượm nghĩ thêm, chẳng hạn nhân tiện ném xác bọn muỗi thèm máu vào trong hang chắc sẽ huyên náo vui vẻ lắm đây. Gã để tâm đến sự vụ ghét bỏ những con kiến. Nhưng, có bận, gã nhận ra, gã bắt đầu cảm thấy hứng khởi với việc giết chết những con muỗi. 

Gã cố gắng tỉnh táo một chút, cố gắng kiểm soát men rượu. Gã thấy mình vẫn đang đứng trước một bức tranh hình nấm mộ dang dở. Chẳng có gì ngoài bức tranh với những bầy kiến đang xếp hàng đi vòng quanh đến một đoạn gam màu chưa được hoàn thành hình thù của đất. Gã vô thức đưa tay với cây vợt muỗi bằng điện thương hiệu clc, hạn sử dụng ba tháng, không bảo hành vung lên hạ xuống. Xác muỗi rớt xuống nền nhà liên tục. Bọn kiến bên ngoài bức tranh phấn khích. Chúng dàn trận, sắp xếp đội hình trước mặt gã. Bọn kiến trong bức tranh thì dừng chân, không bò tiếp. Gã thấy kẻ thân người đầu kiến cầm một cành cây bụi đưa lên cao, như vị chỉ huy trưởng của dàn nhạc giao hưởng. Bầy kiến từ trong lòng tăm tối xếp thành hai hàng như những nghệ sĩ thực thụ trên sân khấu. Chẳng bao lâu, gã thấy cả thân người gã bị hút thẳng vào trong bức tranh hình nấm mộ khổ lớn. Cả thế giới loài kiến vây xung quanh gã. 

4

Có lần gã đã nằm mơ về khung cảnh diễn ra cái chết vĩ đại của mình. Gã thấy mình bị đàn kiến dàn thành hàng khiêng xác gã đến giàn tế lễ. Phía trước là Người Kiến dẫn đầu một cách hoành tráng trong bản nhạc riêng của loài kiến. 

5. 

Khi mùa đông hốt hoảng ùa vào căn phòng trống trải này. Gã vẫn còn sống sờ sờ. Chẳng có bầy kiến nào khiêng gã đi lang thang. Ngược lại, gã bị bao vây, dàn trận, và bị biến thành đối tượng săn lùng của bọn muỗi. Vì máu gã thơm. 

Gã biết, gã từng nghĩ đến việc dứt điểm cuộc chơi trong một thế giới cô độc. Gã đã thử tự sát. Gã đã thử tìm kiếm ý nghĩa của sự tồn tại giữa có và không. Đam mê là thứ gì? Sáng tạo là gì? Gã không tìm thấy những niềm vui thích, hứng thú tuyệt đối trong cuộc đời này. May ra, gã biết vẽ. Một trò chơi tạm bợ. Gã phảỉ vẽ, phải hoàn thành thứ gì đó gã bắt đầu. Gã không thích những kẻ nửa vời. Chẳng hạn như gã phải vẽ xong bức tranh mộ kiến. Gã nhìn sâu vào trong lòng tăm tối, những hang ổ của kiến, bức tranh hỗn độn. Sắc màu của nấm mộ kiến chưa khiến gã hài lòng. Bọn muỗi thì vẫn đều đặn thay nhau kiếm ăn trên thân hình gầy còm của gã. 

6.

Bình minh vừa vặn nở tròn đầy phía sau chân núi, và đậu lại trên các tầng lá thủng. Người đi làm nương rẫy sớm trên các sườn đồi phát hiện những đàn kiến, có rất nhiều kiến. Từ kiến to, kiến nhỏ, kiến màu cánh gián, cho đến kiến đỏ và kiến đen, hoặc cả bọn kiến gió bé xíu. Chúng kéo thành bầy, thành đàn, xếp hàng bò tăng tốc ở lối đường mòn. Một vài kẻ có máu tò mò, lần bước theo chúng. Rồi, người ta hú hét thật to, những con mắt nhìn thấy sự chết kinh hãi gào lên trước khung cảnh hiển hiện tưởng chừng như chưa từng thấy bao giờ. Một xác người khô quắt, nằm giữa bức tranh mộ kiến. Hốc mắt anh ta, như những mê cung, chỉ toàn là kiến. Và, xác những con muỗi căng phồng bụng, máu bắn tung tóe nằm rải rác xung quanh. Có con no kềnh bụng máu không thể bay nổi, vòi vẫn cắm trên xác người.

Tờ tin tức hàng ngày đã đăng một nội dung khá ngắn gọn về cái chết lạ kỳ và bí ẩn của một người đàn ông tóc dài ở phía sau khu rừng dưới chân ngọn núi thiêng. Dân trong vùng dứt khoát cho rằng, anh ta, gã họa sĩ lập dị kia đã phạm đến vùng cấm địa của thần linh. Và, vì thế, anh ta phải chết. 

Khu rừng co quắp lại trong những cơn chớm rét. Thời điểm giao mùa. 

Những người làm nương rẫy trên vùng cao nguyên, vẫn băng qua đường mòn để lên núi gieo hạt. Nhưng, năm nay, chẳng một ai trong số họ dám nghĩ ngợi gì nhiều hơn về những mùa lúa. Thỉnh thoảng, họ cảm giác như mình bị lạc trên con đường mòn huyết mạch hệt như một mê cung hình nấm mộ của loài kiến trong bức tranh của gã họa sĩ đã chết. 

Trần Băng Khuê


Trần Băng Khuê, born in Vietnam in 1982, lived for a period in Auckland, New Zealand. A talented writer and an aspiring artist who currently lives and work in Huế, Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ngưu Lang | Nguyễn Thị Minh Ngọc

Nguyễn Thị Minh Ngọc. foto by Tino Cao.

truyện ngắn Nguyễn Thị Minh Ngọc
Nguyễn Thị Phương Trâm dịch

[a body of work in progress – unedited]

Ngưu Lang

Thế là, như mơ, tôi đứng giữa những người đàn bà và cả đàn ông khác màu da, tiếng nói. Ðêm đầu ở một nước lạ, dường như để dễ nhận ra, ai cũng kiếm những bộ cánh đặc biệt của mình. Những diễn viên của một nhà hát thổ dân Úc chúi vào nhau cười rúc rích, da mốc trắng lên vì trời lạnh, hệt như những người dân tộc tôi vẫn gặp hồi nhỏ ở Pleiku. Một phụ nữ có gương mặt như Phật, trang phục Trung Quốc của bà khiến ai cũng muốn gợi chuyện nhưng rồi lại thất vọng vì bà không biết tiếng Anh mà người thông dịch của bà thì lại chưa đến được. Những người Nam Hàn và Bắc Hàn lạnh lẽo nhìn nhau. Cô gái Nhật, sau một hồi nói chuyện về Kobo Abé, đưa danh thiếp cho tôi, mới hay cô ta là đại biểu đến từ Mỹ.

Ấn tượng đầu tiên của tôi ở Úc là thành phố Adelaide đẹp, nhiều người tốt. Nhưng có lẽ vì thời tiết quá lạnh và thức ăn lạ miệng nên cơn nhớ nhà cồn cào nổi lên khi về đến phòng riêng. Việc đầu tiên là gọi cho Liên đang ở cách đó hàng ngàn cây số, nhưng Liên sẽ nhắn cho những bạn khác. Và sau đó là điện thoại tới tấp của Quang, của Vũ, của Khiêm, của Philip, của Phượng và Bằng, của Dung và Lân. Ðứa nào cũng rủ tôi sau hội nghị ở lại chơi thêm vài tuần vì biết rồi có dịp nào sang đây nữa không. Nghe tôi kêu phải về để chuẩn bị cưới chồng, Quang cười dòn, hỏi phải vẫn cái ông “Mười năm luôn gặp mà tình không cũ?” Tôi đính chính mười một năm ba tháng hai ngày rồi. Giọng ngậm ngùi của những bà vợ, phê bình tôi cái gì cũng được, chỉ dở tệ đường chồng con. Mãi đến lúc không giờ, hẹn mai trò chuyện tiếp.

Khoảng ba giờ, chuông điện thoại reng. Tôi nhấc lên, bên kia đầu dây là tiếng khóc. Tiếng khóc của một người con trai trong đêm khuya nghe như đến từ một cõi khác. Tôi bật đèn, những bức hình đang cười toe quanh tôi như một tương phản lạ. Chúng tôi được phân về ở những ký túc xá sinh viên. Họ đang nghỉ hè. Chủ phòng tôi đang ở để nguyên cả mọi thứ tranh ảnh, sách báo, đàn, giày. Có đến cả phút, tiếng khóc ngưng. Rồi một giọng nói lạ vọng lên:

“Tôi là Phiêu!”

Hiểu rồi! Trước khi tôi sang Úc, Châu có nhờ tôi tìm xem Phiêu giờ sống ra sao, nhờ vậy mà không có số điện thoại lẫn địa chỉ. Châu dặn cứ cho biết Phiêu hồi xưa ở Việt Nam thường đóng những vai như Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… Hồi nãy tôi có nhờ Quang, Quang nói biết tên này, sẽ nhờ người phăng ra. Trái đất nhỏ thật. Trước khi tôi lên máy bay, Châu còn dặn, nếu Phiêu hỏi Châu sống ra sao cứ nói rằng sống được. Rồi thôi! Ðừng cung cấp thêm một chi tiết nào nữa hết.

May quá, sau đó Phiêu vẫn chưa hỏi thăm gì về Châu mà dường như là một người đàn ông khác hẳn với người vừa khóc trước đó. Phiêu hỏi tôi cần gì? Thông dịch viên? Phương tiện di chuyển? Ðồ lạnh? Những địa chỉ nên đến để viết bài? Tôi kêu chỉ thèm cơm Việt Nam, nếu có rau muống dằm cà thì quá tuyệt.

Nói cho vui vậy thôi, không ngờ sau buổi họp chiều ra, nghe nhắn có hai vợ chồng ngồi đợi tôi một tiếng đồng hồ để đưa về nhà ăn cơm rau muống. Họ xưng là Ðức và Hiền, bạn của Phiêu. Tôi kéo theo Julie. Julie là tác giả vài vở kịch viết về Việt Nam, đã sang Việt Nam mấy lần, rất mê những người phụ nữ Việt Nam. Trời vài độ, chưa âm, có lẽ chưa bao giờ những cọng rau muống lúc đó với tôi lại ngon như vậy. Và mắm nữa chứ. Các thứ rau lạ quen có mặt đầy đủ, kinh giới, tía tô, rắp cá, thì là, lá to hơn nhưng hình như vị không nồng nàn bằng ở nhà. Nhất là ớt.

Julie kêu không bao giờ hiểu nổi những người Việt Nam này. Chưa gặp, chưa quen nhau bao giờ, chỉ qua vài lời giới thiệu bâng quơ trên điện thoại, lại có thể ngồi đợi cả tiếng đồng hồ, rồi kéo về nhà ăn uống chuyện trò như đã thân từ một kiếp khác. Ðức nói đơn giản vì Phiêu sống quá tốt với bạn bè nên anh cần bất cứ điều gì, chúng tôi mừng rỡ làm ngay vì rất ít có cơ hội trả ân anh. Thấy tôi có vẻ không rành lắm về Phiêu, Hiền cung cấp cho tôi một đoạn.

Vào những tháng ngày nghiệt ngã của năm 1979, cả gia đình Châu đi hết nhưng Châu ở lại vì mê nghề. Phiêu và Châu lúc ấy đang là hai diễn viên chính của một đoàn kịch mới lập. Sau một số vở thành công, đoàn lại có nguy cơ tan rã vì cả một tập thể đụng với người trưởng đoàn. Dầu được Thành Ðoàn ủng hộ, những diễn viên trụ cột vẫn bị buộc thôi việc gần hết, trong đó có Phiêu, Châu. Vác đơn đi kiện tiếp, họ dốc cả ruột gan cho người trưởng phòng tổ chức của cấp cao hơn. Sau đó, họ nhận thêm lệnh cấm biểu diễn trên địa bàn thành phố. Hóa ra, bà trưởng phòng nọ là chị họ của ông trưởng đoàn kia. Vậy là Châu giận dỗi kiếm đường sang Pháp với gia đình. Phiêu chỉ định đi tiễn bạn nhưng giờ chót Châu không đến, Người tài công tiếc một chuẩn bỏ nên kéo Phiêu đi thay. Sau một thời gian ở đảo khá dài, Phiêu tấp vào nước Úc.

Ðêm đó, khoảng hai, ba giờ, Phiêu gọi lại, lần này bắt tôi kể chuyện Sài Gòn. Tôi cứ hồi hộp sợ Phiêu hỏi tới Châu. Biết nói về Châu thế nào bây giờ khi cô đã dặn chỉ nói hai chữ thôi: sống được! Mà cũng chẳng biết lúc này Châu buồn hay vui. Chỉ thấy nó có một điểm giống tôi, lúc nào cũng ở tư thế hùng hục làm việc như một con điên. Ðời riêng cũng chẳng vui gì. Anh bồ hiện tại khá tốt, chỉ phải tội mê đánh bạc hơn mê Châu. Tôi đã từng chứng kiến những đêm dài, những dịp cuối tuần, cô diễn viên ngôi sao này phải ngồi dài cổ đợi.

Những ngày sau tôi bớt nhớ nhà, bớt thấy lạnh có lẽ nhờ công việc túi bụi và một phần nhờ những người bạn tốt của tôi và của Phiêu. Có một đêm:

“Xin lỗi vì chỉ gọi được cho chị vào giờ này. Chị vừa đi xem Hamlet về phải không? Xưa ở Việt Nam đã có lúc tôi đóng vai Hamlet. To be or not to be? Giờ này Hamlet đang lột sò ở Melbourne. Lột hay không lột, đó là vấn đề!”

Tiếp theo là một tràng cười, nghe buồn hơn tiếng khóc hôm nọ.

“Nói chuyện khác đi Phiêu, những chuyện khác nơi Phiêu đang sống”.

“Ðám bạn của chị giao cho tôi nhiệm vụ thuyết phục chị ở lại chơi vài tháng. Tôi đang kiếm xe chạy qua đó đưa chị đi chơi”.

“Không được, tôi đã quá lớn tuổi rồi. Mãi mới được một người chịu làm đám cưới với mình sau khi ở đây về, không thể bỏ qua dịp may hiếm có đó”.

“Trễ mươi ngày có sao đâu, nếu người ta thương chị thật”.

“Tôi đã trễ hơn mười năm rồi. Nhưng mà nè, sao cậu không về?”

“Tôi sợ!”

“Bao nhiêu người đã về chơi không làm cậu an tâm sao?”

“Tôi chỉ sợ một điều: Châu không được hạnh phúc”.

“Giả sử như vậy, thì cũng có phải lỗi của cậu đâu?”

“Ráng ở lại đi, dù chỉ một tuần. Ít ra, được gặp chị, tôi cũng thấy đỡ nhớ Việt Nam”.

Ngày chuyển từ Adelaide sang Canberra, máy bay ngưng vài tiếng ở Melbourne, tôi không định bước ra ngoài nhưng cô tiếp viên đến cho biết có người cần gặp tôi bên ngoài. Tôi chạy thật nhanh ra, cứ nghĩ không biết Vũ, Hằng hay Nghiêm, Toản thì đã thấy thấp thoáng cuối đường tấm bảng ghi tên tôi kề một khuôn mặt lạ. Tôi hỏi phải Phiêu không? Hắn gật đầu, nắm chặt tay tôi kéo đi. Tay tôi và tay hắn đều nằm trong găng êm nhưng nghe đau lắm. Tôi đùa:

“Cậu không định bắt cóc tôi chứ?”

“Nếu chị là Châu, có thể tôi sẽ. Nhưng nghe chị nói tội quá. Ðợi mãi mười năm mới kiếm ra người chịu cưới mình”.

“Bây giờ đi đâu?”

“Ði sắm vài món đồ lạnh cho chị”.

Tôi đứng khựng lại:

“Thôi Phiêu, tôi đang bị những cái áo như cái mền của bạn cậu đưa ám ảnh. Vừa mới gởi trả lại xong”.

“Vậy thì đi uống nước!”

Căn phòng toàn kính. Hoa khô và những cỏ thơm chất đầy ở góc phòng. Những chiếc máy bay xòe cánh ngoài kia lấp lánh sáng tối. Những người dị chủng tới lui lao xao, thầm thì, xa lạ. Miệng tôi cảm giác đắng khi nghe Phiêu hỏi:

“Sao mãi đến hôm nay chị vẫn chưa chịu nói rõ cho tôi biết đời sống hiện tại của Châu? Tôi có biết cô ấy đang là một diễn viên nổi tiếng, nhưng còn mơ hồ lắm về đời riêng. Hẳn là cô ấy đã lấy chồng? Hẳn là cô ấy đang hạnh phúc?”

Tôi giữ đúng lời hứa với Châu là không nói gì ngoài hai chữ “sống được”. Rồi mở to mắt nhìn Phiêu. Ðọc đi, hãy đọc trong mắt tôi những lời không nói được. Châu những đêm một bóng ngồi đợi người đàn ông chưa được gọi là chồng. Châu ngồi co ra dưới mưa dầm bán vé số. Châu diễn kịch hài, kịch bi, lúc khóc, lúc cười. Châu tươi cười nhận hoa tươi ngập tay từ những người hâm mộ. Châu những đêm diễn xong lang thang không biết về đâu. Châu kể chuyện tiếu lâm gây cười suốt chuyến xe lưu diễn. Châu mệt nhoài thiếp ngủ, mặt trong veo thanh thản như đang được ngủ giấc cuối cùng. Và cạnh đó, song song tồn tại với Châu, người trưởng đoàn năm nào cũng thăng tiến trên con đường quan chức. Ông ta vẫn tiếp tục thay thủy thủ đoàn không thương tiếc để còn được nắm chắc tay lái của chiếc thuyền bị tấp vào một dòng sông kiệt nước từ lâu…

Soi lại bóng mình trong đôi mắt nhỏ, thanh, dài sắt của Phiêu, bỗng nhiên tôi nhớ lại bạn xưa Trâu Nước. Ðó là một trong những người bạn mà khi mất đi bạn mới thấy thiệt thòi biết bao khi không còn anh ta bên cạnh, mặc dầu lúc anh ta còn lẽo đẽo bên cạnh để chìu chuộng những điều trái tính trái nết của bạn thì bạn chỉ thấy vướng víu làm sao.

Melbourne đang là đêm và cái cảm giác bềnh bồng trên mây vẫn còn vây bọc lấy tôi. Ở Việt Nam bây giờ đang là chiều. Và còn chỗ ở của Trâu Nước lúc này, chẳng biết có thấy được trăng không? Hay mặt trời đang lặn, mọc? Chúng tôi ngồi yên lặng, đối diện nhau như vậy với những lời không nói được ứa tràn ngập mắt. Cho đến khi tiếng loa báo chiếc máy bay của tôi chuẩn bị bay tiếp, Phiêu mới rút hai tay ra khỏi găng, đặt trên bàn:

“Ở Việt Nam, đôi tay này thường để khảy đàn, tuốt gươm khi đóng Roméo, Hamlet… Sang đến đây thì chai dầy đi vì nhiều thứ khác: làm farm, lột sò, lái xe, phục vụ nhà hàng, may vá, bấm computer…”

Tôi cũng rút một tay ra khỏi găng để bắt tay Phiêu, nghe nhịp thổn thức trên đường đi của máu trong bàn tay nháp, nóng. Thời tiết bên ngoài nghe nói đã sụt vài độ, dưới không.

Sau đó, ở những thành phố khác của Úc, vẫn có những người bạn của Phiêu chăm sóc tôi mọi mặt nhưng Phiêu không gọi điện thoại cho tôi sau lúc không giờ nữa. Một chiều ở Canberra, một người bạn gái của Phiêu, Noel, đưa tôi lên một đỉnh núi trông xuống thành phố là đà trong mù sương. Noel kêu thích Phiêu lắm nhưng không hiểu nổi những nóng, lạnh bất chợt của bạn mình. Cô đọc cho tôi nghe những bài thơ của Phiêu mà tôi đều thấy thấp thoáng dáng của Châu.

Xa tít xa, ở một đỉnh núi khác, là chiếc tháp truyền hình nổi tiếng của Canberra. Bỗng tưởng như có tiếng quạ đen ríu rít xoãi cánh làm cầu. Và từ chiếc lồng thủy tinh trên tháp ấy bước ra một ả Chức, lướt trên Ô kiều, băng băng chạy đến với chàng Ngưu. Họ sẽ làm gì, đầu tiên, khi lại được chạm vào nhau, trên đầu những con quạ đen tốt bụng đó? Tôi nhắm mắt. Dường như không đương nổi sức nặng của hai người, chiếc cầu quạ gãy. Dường như không thắng nổi sức hút của lòng đất, họ rơi, theo chiều thẳng… Nhưng hãy cố xoay ngang, để thấy họ đang trôi…

*

Khi tôi rời Úc, người ta đưa cho tôi một tờ giấy của Phiêu vừa fax tới:

“Dầu muốn dầu không, Châu cũng là Miss Sài-gòn đối với tôi từ những ngày trước đến nay. Qua chị, tôi thấy một Sài gòn năng nổ, sống động nhưng vẫn còn nhiều phức tạp và vẫn chưa xóa được đâu những gì đó hoài nhớ trong mình. Qua mắt chị, tôi thấy Châu xưa đã bớt là hiện tại.

Cám ơn chiếc áo dài, cám ơn cái bắt tay… để tôi an tâm lên núi làm farm.

Hãy gởi thiệp cưới cho tôi khi có dịp. Ðể tôi còn một duyên cớ, trở về…”

*

Hơn nửa năm, sau khi từ Úc trở về, tôi vẫn chưa gởi được thiệp cưới cho Phiêu. Người chuẩn bị làm bạn đời của tôi khá thân với người đang sống chung với Châu. Hằng đêm, họ vẫn gặp nhau ở một câu lạc bộ vui chơi, nơi có những khuôn mặt đam mê hốc hác. Ðiểu này xảy ra có lẽ phần lớn do những người phụ nữ như Châu và tôi. Chúng tôi đã không giúp được cho bạn mình xóa hẳn cảm giác cô đơn. Chúng tôi không thích hợp trong vai những người vợ bình thường. Và càng không được như Chức Nữ, mỗi năm, được nắm lấy hạnh phúc thật của mình, dù chỉ một lần, trên nền quạ đen muồi bên dưới, và trong những cơn tầm tả mưa ngâu.

1994

Just like that, like a dream, I was standing amongst men and women of different colour skin, language. The first night in a strange country, as though to recognise how easy it was, for anyone to find their special wings. In the Indigenous Australian theatre the performers were huddled together laughing, skin pale and blue due to the cold, no different to the people I met in Pleiku when I was small. A woman with a face like Buddha, her Chinese attire encouraged conversation followed by disappointment because she couldn’t speak English and her interpreter was late. People from North and South Korea coldly stared at each other. A young Japanese woman, after sometime on the topic of Kobo Abé, gave me her card, and it turned out that she was a delegate from the United States.

My first impression of Australia was Adelaide, a beautiful city and its kind inhabitant. I missed home as soon as I got back to my hotel room perhaps because of the extreme cold and unfamiliar cuisines. First thing was to call Liên, who was a thousand miles away, but Liên will message our other friends. And the first call was followed immediately by a call from Quang, Vũ, Khiêm, Philip, Phượng and Bằng, then Dung and Lân. They all asked me to stay a few weeks after the conference since there might never be another opportunity for us to see each other again. Hearing that I had to go home to straight away to prepare for my imminent wedding, Quang burst out laughing, asked if it was the same guy “Fifteen years side by side and all that loving is just as new?” Eleven years three months and two days I corrected him. In the wistful tone of a wife like any other wife, I can accept all criticism, except for when it comes to children and marriage. The watch clocked zero hours, talk more tomorrow.

The phone rang at three. I picked up, on the other end of the line were sobs. The surreal sound of a man crying in the middle of the night felt as though it came from another world. I turned the light on and surround me was the odd contrast of smiling photographs. We were assigned to rooms in the student dormitories. They were on their summer holiday. The owner of my room had all kinds of art photographs, magazines books, musical instruments, shoes, personal affects on display. The crying did not stop for a whole minute. An unfamiliar voice spoke up:

“I’m Phiêu!”

It was suddenly clear! Before my trip to Australia, Châu asked me to check on Phiêu, without giving me an address or phone number. Châu impressed that Phiêu when he was in Vietnam he had roles like Hamlet, Othello, Khuất Nguyên, Từ Hải v…v… I did also just now asked Quang about him, Quang said the name was familiar and said he’ll pass it down the grape vine. It’s a small world. Before taking my flight, Châu reiterated, if Phiêu ask tell Phiêu that I’m fine. That’s it! Don’t add a modicum of anything else.

Lucky, so far Phiêu had not asked about Châu and he seemed as though he was a completely different man to the one who had been crying. Phiêu asked if I need anything? A translator? How are you getting around? Do you need someone to drive you? Warm clothes? Places you should go to get inspiration to write? I said I just miss Vietnamese food, “rau muống dằm cà” would be perfect.

I was joking, but after a meeting, I was told a couple have been waiting for me for almost an hour, they wanted to take me home for “rau muống dằm cà”. Đức and Hiền, the couple were friends of Phiêu. I dragged Julie along. Julie is the author of a couple of plays about Vietnam, Julie have been to Vietnam a couple of times, she adored Vietnamese women. A couple degrees not quite minus, the morning glory had never tasted better. Fish sauce included. An abundant assortment of unfamiliar to familiar vegetables, kinh giới, tía tô, rắp cá, dill, the leaves were bigger but the flavours were just as amazing as those back home. Especially the chilies.


Director Nguyễn Thị Minh Ngọc, born 5 August 1953 in Bà Rịa, Vietnam. She graduated from stage directing in 1980, trained as an actor at the Ho Chi Minh City School of Theater and Cinema and Tran Huu Trang Theater. She was a student of director Nguyen Tuong Tran (second generation disciple of Konstantin Stanislavski), trained as a cải lương performer with People’s Artist Phung Ha, and she trained many renowned native and international drama and cải lương artists like: Meritorious Artist Huu Chau, Huu Nghia, Hong Dao, Quang Minh, Meritorious Artist Huu Quoc, Meritorious Artist My Hang, Luong My, Mai Lan, Hoa Hiep, Xuan Trang, Thanh Phuong.

She taught the subjects of Screenwriting, Drama Theory and History of Vietnamese Theatre at several colleges and universities, co-founded the Experimental Directing Club (1985), staged about 30 traditional and contemporary plays, wrote about 70 traditional and contemporary plays for the stage and about 30 scripts for cinema, hundreds of episodes for television, several research works on theatre and reformed opera, attended many festivals, seminars, composed and researched on theatre and education in the country and in Australia, England, France, Germany, Tanzania, Norway, Sweden, Philippines, USA, Indonesia, and was the stage personality of the year 2004 voted by Vietnam Television.

She was an actress for the stages: 5B Vo Van Tan, Idecaf… The roles that the audience remembers: Otilia, The Chicken Raising Girl & The Old Girl (Du Luan Quan Chung), Aunt Ba Kim Duyen (Ngoi Nha Khong Dan Men), Grandma (Cau Dong), Grandma Ca & Grandma To Gia (Long Dang Do Cao), Grandma (Tam Nguoi Dan Ba), Crazy Audience (Thuong Hoai Ngan Nam), Grandma Hanh Ngo (Mot va cua toi?). The most recent role was Grandma Vu in the MV Tan Vo with Dam Vinh Hung and Nhan Phuc Vinh.[1] The performance “The Last Romantic” is a 60-minute solo performance made up of ten tragicomic monologues that Nguyen Thi Minh Ngoc used to illustrate her talks about theater at universities in and outside the country.

In addition, she is also a member of the Writers, Theater, and Cinema Associations, and is one of the 20 outstanding writers of Ho Chi Minh City selected by the Ho Chi Minh City Writers Association.

She is the first Vietnamese woman to bring Vietnamese works to the off-off Broadway stage in New York as an author, director and actress, including: Lost Woman (2008) and We Are… (2011). She was selected as the highlight of the Vietnamese International Film Festival (VIFF) in the US (2007).

In addition to documentaries about Nguyen Thi Minh Ngoc produced by VTV, HTV, Binh Duong, and Long An television stations, in 2015, director Hung Phuong made the documentary “Nguyen Thi Minh Ngoc – The Treasure Keeper of Gold and Jade” 19’36” long and won first prize in the “I Preserve Beauty” contest.


Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.