The hue of time | Đoàn Phú Tứ

Sự đơn giản by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Đoàn Phú Tứ
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Upon dawn is the crystal clear sound of birdsongs
Inside the cool tones of the wind 
Carried gently is the warm scent of a spring yearning
The days of old are no longer cold, the Qin consort
To her we offer our quiet offerings
A cloudy sky lightly steeped in time
The hue of time is not cool
The hue of time is a soothing purple
The scent of time is lightly scented
The scent of time is a limpid tone
Hair is like clouds like a golden dagger
In reticence seclusion she served the emperor
To rather betray his desire
Than him to have seen her ravaged by time
A fateful hundred year is severed
In the lingering scent of an old love
The scent of time is a limpid tone
The hue of time is a soothing purple

(October 2021)

[a translation for Đinh Trường Chinh]

Màu thời gian

Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thoảng xuân tình
Ngàn xưa không lạnh nữa, Tần phi
Ta lặng dâng nàng
Trời mây phảng phất nhuốm thời gian
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh
Tóc mây một món chiếc dao vàng
Nghìn trùng e lệ phụng quân vương
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng
Duyên trăm năm dứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát

Source: thivien.net


Đoàn Phú Tứ, the poet, playwright, and translator, was born and died (1910-1989) in Hanoi, Vietnam. He graduated high school in 1932 and left halfway through a law degree to pursue a career in newspapers like Phong hoá, Ngày nay, Hà Nội báo, and Tinh Hoa. He was the core advocate at the time for an unconventional literary movement. Đoàn Phú Tứ was a prolific playwright, the stage was his main source of creativity and thus rarely composes poetry, he was also the translator for the works of many renowned Western authors.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Bia Mộ | Merrit Malloy

Rain in the Old Quarter, photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem by Merrit Malloy
Translation into Vietnamese by Nguyễn Thị Phương Trâm

khi tôi không còn nữa
những dấu vết còn lại
là tôi hãy mang nó
cho những hài nhi những
người đàn ông cuối đời
đang đợi ngày về đất.

và nếu bạn cần khóc
hãy khóc cho anh em
bạn đang đi ngay cạnh
và khi cần tôi hãy
ôm vai người kế bên
hãy trao cho họ những
gì bạn muốn gửi tôi.

tôi muốn để lại cho
bạn gì đó hơn những
âm thanh hay là chữ.

hãy tìm kiếm tôi trong
những người tôi đã biết
đã yêu và đã nhớ
và nếu bạy không có
thể buông tôi ra hay
cho tôi đi thì hãy
cho tôi xin sống lại
trong cặp mắt bạn không
trong hộp xọ bạn nhé.

bạn yêu tôi nhiều nhất
khi bạn để bàn tay
mình nghe da thịt bạn
mong muốn da thịt khác
và cho những đứa trẻ
sự tự do của chúng.

tình yêu luôn còn mãi
dù tôi không còn nữa
nên khi còn lại chỉ
là tình yêu của tôi
thì xin bạn hãy mang
tôi, hãy cho tôi đi.

When I die
Give what’s left of me away
To children
And old men that wait to die.

And if you need to cry,
Cry for your brother
Walking the street beside you.
And when you need me,
Put your arms
Around anyone
And give them
What you need to give to me.

I want to leave you something,
Something better
Than words
Or sounds.

Look for me
In the people I’ve known
Or loved,
And if you cannot give me away,
At least let me live on in your eyes
And not your mind.

You can love me most
By letting
Hands touch hands,
By letting bodies touch bodies,
And by letting go
Of children
That need to be free.

Love doesn’t die,
People do.
So, when all that’s left of me
Is love,
Give me away.


Merrit Malloy sinh ngày 18 tháng 9 năm 1950 tại Pennsylvania, Hoa Kỳ. Cô là nhà sản xuất và biên kịch, được biết đến với Carrie (1976), Valentine (1979) và Forever (1978). Trước đây cô đã kết hôn với Paul Monash.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

SAIGON 30/4/1975 | Ngô Đình Hải

Lần hạt 30 tháng tư trước cổng Dinh Độc Lập. Source: Jesus & Maria social media page

A poem in Vietnamese by Ngô Đình Hải
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

nothing was poetic about it
I was merely flustered
nothing was familiar
I was merely confused
Saigon was damp with tears
I miss my unit, I miss my friends
a madness was eating them up

some ran for the helicopter pad
no helicopter
some ran for the port
no boat no ship
just plenty of people
plenty of water

some heard the order to surrender
some saw the tank
some saw the piles of army boots
piles of uniforms and dead bodies

facing surrender
some held onto their guns
took the last shot
some were ready to die
pay their dues
in name and country

midday
a day wishing it was gone
a lifetime left and I no longer know
who I am

SÀI GÒN 30/4/1975

bây giờ mười hai giờ
trưa của ngày ba mươi
nắng vẫn là nắng cũ
nắng không nhận ra tôi

….

tôi đâu có làm thơ
là do tôi nói sảng
tôi nói quàng nói xiên
là do tôi không quen
Sài Gòn đầy nước mắt
là tôi nhớ bè bạn
đứa nào cũng cuồng điên

….

đứa chạy ra sân bay
không có máy bay nào
đứa chạy ra bến tàu
chỉ có người và nước

….

đứa nghe lệnh đầu hàng
đứa đã thấy xe tăng
thấy giầy saut áo trận
và xác người trên đường

….

trong cái thua biết trước
đứa vẫn còn cầm súng
bắn viên đạn cuối cùng
đứa sẵn sàng nằm xuống
để trả nợ núi sông

….

bây giờ mười hai giờ
như vội hết một ngày
tôi còn lại một đời
không nhìn thấy được tôi

….

Ngô Đình Hải, a writer from Hai Phong, who currently lives in Saigon, Vietnam

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

live and write like people in exile | Nguyễn Hưng Quốc

A critical assessment in Vietnamese by Nguyễn Hưng Quốc
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm


Sống và viết như những người lưu vong

Nguyễn Hưng Quốc

Trong tập Du côté de chez Swann của Marcel Proust, mặc dù nói là đi tìm thời gian đã mất (A la recherche du temps perdu), nhân vật chính chỉ loay hoay tìm kiếm mãi hình ảnh một cái làng, làng Combray. Bởi vậy, nghĩ cho cùng, văn học lưu vong nào cũng ít nhiều mang tính chất “miệt vườn”. Giũ bỏ tính chất “miệt vườn” ấy bao giờ cũng là một thách đố lớn cần nhiều quyết tâm lớn và tài năng lớn.

Từ kinh nghiệm này, chúng ta không nên khinh thường nhận xét đã được nhiều người phat bleu: văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước năm 1975. Nêu điều đó chưa phải là một hiện thực thì ít nhất nó vẫn là một nguy cơ.

Nguy cơ rõ nhất và cụ thể nhất là việc tiếp nhận cái mới trở thành vô cùng khó khăn dù về phương diện khách quan, chúng ta có đầy đủ tất cả những điều kiện cần thiết khiên những người trong nước phải thèm thuồng. Ngoái về quá khứ, cac cây bút lưu vong ít khi đóng được vai trò tiên phong. Nêu ví nên văn học hay văn nghệ hải ngoại nói chung VỚI một trận bóng đá,’ thì đó là một trận bóng thường chỉ có các hậu vệ và thật nhiều thủ môn, đó chiến thắng được tính bằng những lần bắt bóng chứ không phải bằng những lần làm bàn. Một trận đấu kì dị. Quái gở. Và tuyệt vọng. 

Chúng ta đầy mâu thuẫn: chúng ta vừa sùng bái Tây phương lại vừa sợ bị Âu hoá; chúng ta vừa hết lời ca ngợi truyền thống văn hoá dân tộc lại vừa không ngớt đay nghiến, bỉ thử nếp sống đậm màu sắc truyên 

thống của cộng đồng người Việt khu Bolsa bên Mỹ, khu Paris 13 bên Pháp hay khu Cabramatta và Footscray úc; 

…Chúng ta thường nghi kỵ một cách quá đáng những nhà văn viết bằng tiếng Việt chịu ít nhiều ảnh hưởng của Tây phương dù đó là những tài năng lớn trong khi chúng ta lại vồ vập một cách quá đáng một số cây bút trẻ viết thẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, dù chưa có gì hứa hẹn đó sẽ là những tài năng thực sự. 

Đi vào một sinh hoạt văn học không phải của dân tộc mình, người ta, nếu không phải là một đỉnh cao thì rất dễ có khả năng sẽ không là gì cả ngoài cái việc được đăng tải và được xuất bản. 

Sự kiện đứng bên lề và sự kiện xa cách tuyệt đối với độc giả khiến khái niệm “danh vọng” trở thành hão huyền: ngay cả những người xuất sắc nhất trong chúng ta cũng chỉ “nổi tiếng” trong một phạm vi thật nhỏ, chủ yêu với một nhóm bạn bè và những người quen biết.

Trong câu hỏi của Nguyễn Mộng Giác đã có sẵn câu trả lời. Thời ông cầm bút Việt Nam, những tiếng vọng liên tục từ phía độc giả có khả năng tạo nên những “dư âm kỳ thú (hay kỳ dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới.” Còn hải ngoại thì làm gì có những tiếng vọng như thế? hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ chừng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây. Lặng ngắt. Không nghe gì cả, kể cả một lời chê, một tiếng chửi, cũng không có. Hoàn toàn lặng ngắt. 

Viết văn, ngày xưa, là một danh phận; sau này, vừa là một danh phận vừa là một nghề nghiệp. hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là một danh phận. Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực ở hải ngoại hiện nay. 

Vietnamese literature in exile is more or less the result of us constantly looking back; “In search of lost time” like Proust, letting go of a rich culture “miệt vườn” is no way an easy task, it requires conviction and aptitude.

When Vietnamese literature oversea is treated as an extension of South Vietnamese Literature prior to 1975, whether it’s a reality or not, it’s always a precarious disposition.

Number one, the most obvious precarious disposition is how extremely difficult it is to accept what is new no matter how objective, we’re so privileged with all the means at hand that doing nothing still leaves our compatriots in Vietnam drooling. Yet there are no pioneering writers amongst Vietnamese oversea, a soccer game with only defenders and lots of goalkeepers is a bizarre and despairing constitution.

We are full of contradictions: we adore the West but we are afraid of being tarnished; we are proud of our cultural heritage but we are endlessly critical of the colourful segregated Vietnamese communities scattered around the globe, Bolsa in the States, District 13 in France, Footscray and Cabramatta, in Australia.

We are unduly suspicious and too quick to disregard the great writers who writes in Vietnamese, who are more or less influenced by the West. We are more curious about young writers who write in English or French with no promise of true talent.

Literature void of excellence is of little value except for it being published in scattered publications. 

Therefore, being on the sideline means the writer is in a position furthest from their readers, “fame” is an illusion, we’re at best “famous” in a small community or amongst friends and acquaintances.

The answer is already there in Nguyễn Mộng Giác’s question. When he was a writer in Vietnam, the constant resounding reactions from readers had the ability to create “wonderful (or bizarre) resounding responses which had the ability to take both the author and the work on a new adventure.” While oversea there are no such resounding reaction? Oversea, publishing an article in a newspaper or published book, it’s like talking down a disconnected telephone line. Silence. Not a single sound, not a word of criticism, or even a curse. Complete silence.

Writing, in the past, was a title, an entitlement; later, it became both title and profession, but in reality, in conclusion there is no such title. Writing overseas has become an impotent and powerless venture./.

October 2021

 NB.

  1. Looking back, not being able to let go, and the resistance and acceptance of the change.                                                    
  2. Contradictions: The West’s influence versus retaining our cultural Eastern heritage. Great Vietnamese authors are being marginalised by a “banana” generation of writers, praised with no guarantee of success.
  3. Literature void of excellence has no future. 
Sydney Opera House, Australia

Nguyễn Hưng Quốc, born Nguyễn Ngọc Tuấn in 1957, in Quang Nam, Vietnam. The linguist, critic, writer, and poet is currently living in Victoria, Australia.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A tearful veil of mourning | Viên Linh

Sketch of Viên Linh by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Viên Linh
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Leaving as soon as it is dark
The memory of Saigon in my heart
Looming mountains and endless sea
And again alone, there is me.

Alone tip toeing across the plank
Unuttered folklore on my lips as my heart sank
Northern bayans and lonely huts in the rain
Southern coconut palms scattered across the land.

The endless reasons on why one should stay
Endless longing as it may
The shallow roots of one hundred legendary
One hundred sad shadows of posterity.

Legendary union to dissolution
Matriarchal god of mountains
Patriarchal god of seas
A golden age of separation

O my homeland, the legends
Upon my greys I am exiled
Somewhere in my heart the literature filed
I’m a starling swooping three times beguiled

Brothers and sisters saying their goodbyes
The scatter of a hundred children
All over the world are rice cakes and puddings
Round and square and mismatched pairs

Some sinking sinking to the bottom of the sea
Some waiting wandering watching wait to see
Some in shallow shallow graves indeed
Some in the underworld so deep O heed

An undefined reflection of a soul
The vengeful heart behind a tearful veil of mourning
What root, what kind of root will hold
O God of the gate of the sea be told

The dying light now like the dying light of old
How sad are you to see me leave O Saigon so?
Diminished youth and yellow leaves
Small alley ways and dry thin trees

As green as leaves down a rapid our lifeless body be
In moss and seaweed head for the Pacific ocean and the sea
So what it is only a few of my friends
A couple of my children in a distant land

Unspoken love
Silent words and sounding silence
Of drowned out aspirations and dreams
Buried beneath a tumulus of snow is the white veil of winter

With nothing but our hands to fend for the future
Under a black and blue sky we call the white and cold home
Exiled as though on the island of An Tiêm, with nothing
To show and or for the next life aspiration

The lines of fate in our hands that of life
And death, the exploding strife
Roaring waves and crashing thunder
A tiny boat gliding and sliding, going under.

Leaving as soon as it is dark
The memory of home in my heart
A distant river, the call of a lonely ghost
For the ferryman

The call echoing like falling rain
Through the seven southern mountains and plains
Through the Mekong Delta the aching pain
The grumble of an angry dragon at the heart of the sea

The familiar cry at the side of the road you see
The unfamiliar cries of those around a bed
The love of misery of those undead
Sound of cups rice bowls and cheers

Amidst the laughter the pitter patter of falling tears
Crackling flames from the gate to hell, a path toward liberty
Toward the land of the free
Black horse and Starling tweeting farewells

Rhythmic whispers of lục bát
He went he left will he come back
Like clouds so white across the sky
The exchange of thunder and hope as time went by

The home in my heart is a small fire
Of love of warmth of glowing amber
Of drowned out aspirations and dreams
Through the mist return the wronged lost soul

Sit, stay, O wronged lost soul
So what if you have lost your mind
You have walked and walked through lands and mines
Rest your back now on these clean sheets dim now the light

The pair of us shall tear through the jungle
Through the indigo bushes canopies and thistles
Tigers amidst a blooming grove of songs
Swallow the drama welcome the returning illuvial waves

Even a token of a goddess hairpin did not stop
Từ Thức from breaking his marriage, to never return
Profound was his misfortune that followed
Boundless was the sea of his sorrow

A new life coming home to see old friends
Inevitable departure inevitable new life
Sit, sit down by my side
O the old ghosts let them rise, O don’t let them hide

Upon this dear woven mat is the same girl
Through the thirteen gates of hell it is the same boy
Life may separate us but our heart did stay true
Run silenly and faithfully still is Tào Khê waters

Sit, sit for a bit as life trickles by
I have traveled far I can not lie
Drink
Clink our glasses
Break a few bowls
Drown our sorrows
Wake up that unsurpassable Place of Denial
In my mind

THỦY TANG

– Viên Linh –

Chiều nay hơ hải trên đường
Sầu bi, ta chỉ sầu thương Sài Gòn
Dưới chân đỉnh núi chon von
Trên đầu đáy biển, ta còn mình ta.

Còn ta Lục tỉnh la đà
Sáu câu vọng cổ quê nhà trong mưa
Còn ta nhớ lắm làng xưa
Cây đa ngoài Bắc, ngọn dừa trong Nam.

Mênh mông một giải cơ hàn
Ngược xuôi những bóng điêu tàn hoài mong.
Chiều nay tàn tạ chân dung
Cái thân di trú, cái giòng trăm con.

Phân ly – lịch sử vàng son
Hợp tan – truyền thuyết lên non xuống nguồn.
Thạch sơn đó mẹ Tiên nương
Thân cha kìa nước trùng dương dáng người.

Còn chi nữa cố hương ôi
Đầu xanh vừa bạc một đời lưu vong
Văn chương một góc trong lòng
Thân ta mòng sáo ba vòng lượn bay.

Anh em đầu phố chia tay
Trăm con trăm ngả bánh dầy bánh chưng
Cái vuông muốn chứa cái tròn
Cái xanh cái trắng cái còn cái không.

Cái chìm trong biển mênh mông
Luân lưu viễn xứ cái trông cái chờ
Cái nông nấm mộ sờ sờ
Cái sâu âm phủ cái mờ cái trong.

Trước gương nhan sắc như ròng
Đằng sau mặt thủy cõi lòng như dao
Cõi làm chi, cõi thế nào
Cõi khôn cõi vụng ra sao Thần Phù.

Chiều nay như một chiều xưa
Ngược xuôi đôi ngả sầu chưa Sài Gòn?
Phố nào cây nhỏ chon von
Vàng khô lá rụng ai còn tóc xanh.

Ta xanh thi thể trên ghềnh
Rong rêu ngoài biển Thái Bình giạt trôi
Bạn ta lưu lạc mấy người
Con ta trôi nổi cuối trời xa xăm.

Tình ta, một mối tình câm
Nói ra im lặng, âm thầm tiếng vang
Thôi quên đi nhé mộng vàng
Mùa đông tuyết phủ tâm tang trắng ngời.

Trắng hai tay lúc đổi dời
Quê hương trắng lạnh dưới trời bầm đen
Đảo xa lầm lũi An Tiêm
Kiếp sau mù mịt, nhãn tiền vô dung.

Coi tay đường nét xổ tung
Nhìn nhan đoán mệnh trùng trùng sóng kêu
Thuyền con một chiếc như diều
Mang về sầu thẳm những điều đau thương.

Chiều nay hơ hải trên đường
Sầu bi, ta lại sầu thương Quê Nhà.
Sầu quê một giải sông xa
Lơ thơ bến cũ hồn ma gọi đò.

Gọi từ văng vẳng cơn mưa
Ầm vang Bảy Núi mơ hồ Cửu Long
Tiếng đau quằn quại thân rồng
Tiếng hờn thủy quái trong lòng đại dương.

Tiếng quen ai khóc bên đường
Âm âm tiếng lạ quanh giường than van
Yêu thương những tiếng cơ hàn
Tiếng ly tiếng bát hân hoan tiếng người.

Nước reo trong lửa tiếng cười
Áp tai cửa ngục tiếng đời tự do
Nhìn nhau những tiếng hỏi dò
Ngựa Ô Con Sáo tiếng hò chia ly.

Tiếng thơ sáu tám thầm thì
Nguyễn đi sao chẳng Nguyễn về Nguyễn ơi
Bạch vân am quán giữa trời
Truyền nhau câu sấm như lời hẹn vui.

Sầu quê một bếp lửa vùi
Thân yêu im lạnh rạc rời tro than
Thôi quên đi nhé mộng vàng
Trong sương ta thấy hồn oan đã về.

Ngồi đây đi bạn hôn mê
Đã xong cháo lú đã về cửa quên
Đã qua những chuyện trăm miền
Đêm nay đèn nhỏ chăn mềm rất thơm.

Đôi ta phá rạch xoi rừng
Sú chàm có mái sơn lâm có nhà
Cọp ngồi xem hát đồng hoa
Sấu về uống nước phù sa nghe tuồng.

Ngải thơm cài tóc tiên nương
Trăm năm Từ Thức nhớ đường lại đi
Trầm luân đó có ra gì
Tang thương, chút sóng trong ly hải hồ.

Người về, kiếp mới thân xưa
Người đi phận cũ tân thư vào đời
Ngồi đây đi bạn chung đôi
Ma thiêng dưới đáy cũng người lân bang.

Chiếu yêu xem kính vẫn nàng
Mười ba cửa ngục vẫn chàng ngày xưa
Sông Văn vẫn một bến bờ
Tào Khê suối đạo lặng lờ vẫn trôi.

Ngồi đây đi bạn giữa đời
Chúng ta một lứa bên trời gặp nhau
Bừng say,
ném chén,
tan sầu
Tỉnh ra, Quán Lú trên đầu chưa qua


Vien Linh [1936-2024] grew up in Saigon. He made a living as a writer since 1962, and was the Editor-in-Chief of many weekly newspapers specializing in literature and art such as Kich Anh, Nghe Thuat, Khoi Hanh, Hong, Thoi Tap, Dan Ta… He was the Editor-in-Chief of Tien Tuyen Daily Newspaper of the General Department of Political Warfare for more than 6 years of military service, with editors Le Dinh Thach and Ha Thuong Nhan. He was discharged in 1972. March 28, 2024 the poet Vien Linh passed away at 11:11 a.m. in Virginia, USA, at the age of 86.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Emerald Tear – Lệ Đá Xanh | Thanh Tâm Tuyền

Lệ Đá Xanh by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Thanh Tâm Tuyền
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

I know there are those who cry alone
not for a moment of silence easing
those who cry only within their heart
did you know about those verdant
hardened emerald tears
residing within tired withered hearts


I want to believe sometimes
there are only starry nights
shimmering stars in your eyes
upon my last breath
I want to believe
the world is fragrant with the Creator’s fruit
the juice of your sweet lips
the source of milk and honey
I want to believe
in a world full of wildflowers
petals like the lure of your arms
tender embrace
I want to believe sometimes
those who cry alone gosh(dear God)
the painful teardrops are but emeralds within
a tired withered heart

LỆ ĐÁ XANH

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi


đôi khi anh muốn tin
ngoài trời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi




* nguồn : Thanh Tâm Tuyền . Tôi Không Còn Cô Độc . Người Việt xuất bản , in tại nhà in Hợp Lực , xong ngày 15-10-1956 .

nhạc Cung Tiến
tiếng hát Thu Vàng

Thanh Tâm Tuyền (1936-2006), real name Dư Văn Tâm, was a poet, as well as critic, editor, fiction writer, and playwright. He was born in Vinh, moved to Saigon in 1954, emigrated to the US in 1983, and died in Minnesota in 2006. (Source: Wikipedia)

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

O HELLO APRIL | Thanh Dang

Chris & Bella, photography in the 90's by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Thanh Dang
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

To the awakening of my homeland, hello
Countless sad hearts, dead, roaming souls
O Hello to a predestined day in history
Looming annamite and weepy seas

O Hello to April, popped up classrooms
Teaching heroes how to moo like cows, and looms
Like oxen, a nation trudging against time
With not once an ounce of pity(it’s a crime)

Hello to an April tainted with blood
A homeland buried somewhat
In one’s heart numb by the exile, wandering feet alas
Pray, beg for a day’s rest

Hello to April, to those who had given up
O homeland covered in blood
The blood of Lạc Hồng in a flood
Hammer and sickle fought each other(bothered still)

CHÀO THÁNG TƯ

Chào tháng tư, chào quê hương mở mắt
Triệu lòng buồn, triệu người chết, triệu hồn đau
Lịch sử thương tâm định trước một ngày
Biển khóc ngất, Trường Sơn thê thiết khóc

Chào tháng tư, những ngôi trường mới mọc
Dạy những anh hùng ngã ngựa kiếp bò, trâu
Tổ quốc nầy tuy năm tháng đánh nhau
Nhưng vét cạn lương tâm lần thứ nhất

Chào tháng tư buổi bước người rướm máu
Thân quê người tâm lãng đãng quê hương
Những bàn chân mong dựng lại miếu đường
Đã tê buốt đành với đời- vong quốc…

Chào tháng tư, chào những người bỏ cuộc
Quê hương nầy máu thắm khắp non sông
Có giận hờn nhau cũng con cháu Lạc Hồng
Phải có lúc phai đi màu cọng sản


Thanh Dang, the poet from Vietnam currently resides in Houston, Texas, U. S. A.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

On The Flipped Side | Nguyễn Văn Thiện

Hồ Nghe. Art by Đinh Trường Chinh

A Short story in Vietnamese by Nguyễn Văn Thiện
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Something was broken, falling apart. First of all, it was a dewdrop. After that, the moon. Followed by the Sun. And then in the end after that…

Something was lost. First of all, it was a dewdrop. After that, the moon. Followed by the Sun. And then in the end…

Something was flipping. First of all then in the end…

A long time ago, we wanted to see a movie, but we didn’t have the money for tickets, so my friends and I sneaked our way to the back of the cinema and watched the movie from the other side of the screen. We watched the movie on the flipped side. The movie was not hard to follow, something about a bleeding horrid war!

I maintained this tradition from that point onward, I maintained my spot behind the screen, watching the world, watching the actors, on the flipped side.

I would wear my dark glasses!

Through the dark glasses, I viewed life like someone who was visually impaired; I viewed life through tinted glasses on the flipped side of the screen. The drop of dew broke into a violent wave as it rolled away, and the moon broke immediately into shards of ridiculous deceit. And when the Sun broke, in the chaos, I watched the flipped pieces drift away in the shape of people’s hearts.

I remained vigilant as I watched from behind the screen. Life falls to pieces, a collection of incidents, and there were faith and love, there were the exchanges of lies, more strange than the tales on Mount Chư Mang, more complicated, harder to understand.

As I watched the pieces fall apart, changing from white to black in the middle of the bright screen, a small bird, whistling passionately, its voice was proud and crystal clear. A forest materialised in an instant, just before the little bird stretched out like a rope, turned into a snake, and slithered away.

Have you ever seen, or come across anything like that? On the right side of the screen, the bird was still singing, and the audience was still in a trance. While as an abandoned delusional watcher, I saw the bird change into a snake before it slithered away, followed by a disappearing forest, leaving behind soulless drunken light, like the dull twinkling eyes of those on drugs in a dark corner in the middle of the night.

In an uncontrollable outburst, I shouted: “Hey, life is beautiful, life is good!”. On the right side of the screen, the audience was quiet, captivated by the thrill of a scene. A chase possibly, a shooting maybe, the stereo was so loud it felt as though a mountain was exploding, cracking open, erupting, like the summer hail storms. On the flipped side, shadowy forms of people were disappearing, leaving in procession, following one another into the distance—a crowd, like a wedding. There was a familiar face; it felt like we may have met some three hundred years ago in the past.

Again I shouted: “Hey, are you not a part of me!”.

The familiar face turned around, eyes squinting, searching, looked surprised, but continued to walk away with the crowd from three hundred years ago. 

A dewdrop shattered, followed by the moon.

The desire to watch from behind the screen no longer appealed to me, I wanted to finally end a habit that had become a tradition. The blurry screen was consistently deceiving my senses, and my eyes were tired. I decided to change my point of view, no more movies, I watched the crowd instead, I watched the audience on the other side of the screen, and I searched the crowd for anything that might interest me. Of course, there was nothing to see, but a jammed-packed crowd enthralled by a thrilling bloody tale. They took no notice of what was behind the screen, the sweaty nut job watching the movie through tinted glasses. I told myself; I preferred it this way! They don’t care, as the fight on the screen encapsulates them in a bubble. Admittedly from my point of view; the audience was dragged along via their noses by gifted directors and actors. They’re mesmerised, content, they’re happy. While in contrast, I was lost. Something was wrong, something was bent out of shape, I became more disturbed as I moved closer and closer to the screen, I found myself more and more frustrated, I found myself screaming: “Idiots!”. No one moved, not a millimeter, a thousand eyes still glued to the screen. “You brainless twits!”. By this point, an usher noticed me. Immediately, a handful of them heads straight for me. They pulled at my hair; my arms, and my legs, as they dragged me out of the front gate.

The leathery-skinned security guy at the gate, appeared somewhat educated, and asked me: “Did you have fun watching the movie from behind the screen?”. I said: “I don’t feel happy or sad!”. He continued, openly mocking: “Do you know what the movie is about?”. I said: “Of course, I know. Something was broken, falling apart. First of all, it was a dewdrop. After that, the moon. Followed by the Sun. And in the end…Something was lost. First of all, it was a dewdrop. After that, the moon. Followed by the Sun. And in the end…Something had flipped. First, it was then in the end…”. I was ready and prepared for the security guard to kick me in the ribs or slap me across my face, but nothing, he was silent and thoughtful, staring at the empty space in front of him. He turned slowly towards me, and met my gaze, as he silently wiped away the tears on his cheeks. He said, before I was thrown out the front gate in my large beehive glasses: “Look man, don’t watch the movie on the flipped side anymore, the bird is gone, the people here have moved on, there’s nothing left of that virtuous era of old…”.

I didn’t catch what he said at the end, his last words were drowned out by excited outbursts coming from the cinema, the audience reacting to a fast-paced, exciting, vigorous scene. Heading for the course of my life, I was no longer able to see anything else, except for a very familiar face, as though we may have met some three hundred years ago in the past.

Perhaps, I was reappearing as pieces of me patched together from three hundred years ago? That security guy, probably was someone I knew, from a time in a long gone distant past.

Only the movie on that full screen was the present day.

Something was broken, and falling apart…

Chơi trò lộn ngược

Có cái gì đó đang vỡ tan ra. Đầu tiên là một giọt sương. Sau đó là mặt trăng. Tiếp nữa là mặt trời. Và cuối cùng là…

Có cái gì đó đã mất rồi. Đầu tiên là giọt sương. Sau đó là mặt trăng. Tiếp nữa là mặt trời. Và cuối cùng là…

Có cái gì đó đang lộn nhào. Đầu tiên là và cuối cùng là…

Ta nhớ cái hồi xa lắc xa lơ đi xem phim chiếu bãi màn ảnh rộng, nhưng không có tiền mua vé, ta và các bạn bèn đứng phía sau tấm phông, và xem phim ngược. Kết quả là vẫn em xong bộ phim ấy, nhưng ở chiều ngược lại. Vẫn hiểu hết nội dung, kể về cuộc đấu tranh gì đó đại loại là đẫm máu, tuy nhiên, không rành mạch cho lắm!

Bây giờ, ta lại tiếp tục, tham dự vào một trò chơi, mà vị trí của ta là phía sau màn ảnh rộng, để xem cuộc đời, xem gương mặt các diễn viên, ở chiều ngược lại…

Vì vậy, ta thường mang kính đen!

Dù thường xuyên mang kính đen như một gã khiếm thị lơ láo nhìn đời, nhưng ta vẫn thấy cuộc sống màu hồng, bởi vì, ta đang ở vị trí phía sau màn ảnh để nhìn ngược lại. Giọt sương vỡ tan ra bỗng nhiên biến thành cơn sóng dữ cuồn cuộn cuốn đi, mặt trăng vừa vỡ tan ra lập tức trở thành những mảnh vụn dối lừa nham nhở. Và khi mặt trời vỡ tan ra thì ta bàng hoàng thấy, những nát vụn ngược xuôi không khác gì mảnh vỡ tim người.

Ta vẫn đứng phía sau màn ảnh để nhìn lên. Cuộc sống vẫn vỡ vụn và đơm đặt hình hài đủ loại chuyện kể, có tin yêu, có lọc lừa xuôi ngược, lạ hơn câu chuyện về núi Chư Mang ta từng kể cho bạn nghe, và, phức tạp, khó hiểu hơn nhiều…

Khi ta đang dõi theo những vỡ vụn đổi trắng thay đen thì giữa quầng sáng của màn hình, xuất hiện một chú chim nhỏ, đứng hót say sưa, giọng lảnh lót đầy kiêu ngạo. Và cả cánh rừng hối hả hiện ra. Liền đó, chú chim lập tức dài ra như sợi dây, biến thành con rắn, trườn đi. 

Bạn đã bao giờ xem chưa, đã bao giờ bắt gặp chưa? Phía trước màn ảnh, hình như con chim vẫn hót, khán giả vẫn say sưa và trầm trồ. Chỉ có mình ta, một khán giả bị ruồng bỏ, lạc loài với trí não đầy ảo tưởng, đã phát hiện ra, chú chim hóa rắn, và bò đi mất, cả cánh rừng cùng đã biến mất theo, chỉ còn lại quầng sáng vô hồn chiếu thẳng, như mắt người say thuốc nửa đêm…

Trong cơn tự kỷ không cách nào kiềm chế, ta hét toáng: “Ồ, đời toàn màu hồng, đẹp quá!”. Phía bên kia màn ảnh rộng cuộc đời, số đông khán giả vẫn đang nín lặng theo dõi bộ phim đang hồi gay cấn. Hình như là đuổi bắt, hình như là bắn nhau, âm thanh như lở núi, như mưa đá mùa hè. Ở phía ngược lại bên này, ta thấy những bóng hình rời bỏ, ra đi, theo con đường xa hun hút. Họ đi theo một đám đông, như là đám cưới. Có một gương mặt rất quen, như đã từng gặp ở đâu từ ba trăm năm trước.

Ta lại hét toáng lên: “Mình ơi!”.

Gương mặt rất quen ấy quay lại, nhíu mày, tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi lại tiếp tục bước đi về phía đám đông của ba trăm năm trước.

Giọt sương vừa vỡ ra, mặt trăng cũng vừa vỡ ra…

Ta không muốn dõi theo màn hình nữa. Những hình ảnh không rõ ràng thường xuyên đánh lừa thị giác đã làm ta mỏi mắt. Ta di chuyển điểm nhìn, bây giờ, thôi đừng coi phim, mà nhìn xem, đám đông khán giả phía bên kia, có gì hay ho không. Tuyệt nhiên không có gì, chỉ là một đám đông say sưa dõi theo một câu chuyện máu me gay cấn. Họ cũng không thèm để ý rằng, phía sau bên kia màn ảnh, có một gã dở người ẩm ương đang xem phim ngược bằng cặp kính đen. Ta nói một mình rằng, ta thích thế đấy! Họ không quan tâm, câu chuyện đấm đá đang thu hút họ. Quan sát ở phía đối diện, ta nhận ra, họ đang bị gã đạo diễn giỏi nghề và những diễn viên kì cựu dắt mũi. Họ say mê, mãn nguyện vì điều đó. Chỉ còn lại một mình ta, lạc lõng đứng nhìn. Có cái gì đó là bất công, là không thỏa đáng, ta nghĩ thế, và tiến lại gần màn ảnh, hét to: “Đồ đám đông ngu muội!”. Vẫn không ai nhúc nhích, hàng ngàn cặp mắt cặp tai còn bận theo dõi màn hình. “Đồ đám đông không não!”. Đến lúc này thì có người để ý đến ta, đó là những nhân viên soát vé. Lập tức, một bọn hăm hở lao ra. Ta bị túm tóc bẻ tay lôi về phía trước cổng.

Một gã bảo vệ, có vẻ cũng có học hành, mặt đầy vẻ giễu nhại, hỏi ta: “Mày xem phim ngược từ phía sau, vui không?”. Ta nói: “Không có gì vui, không có gì buồn!”. Hắn lôi thôi hỏi tiếp, vẻ trêu chọc hiện rõ: “Mày có hiểu bộ phim kể chuyện gì không?”. Ta nói: “Đương nhiên là có hiểu. Có cái gì đó đang vỡ tan ra. Đầu tiên là một giọt sương. Sau đó là mặt trăng. Tiếp nữa là mặt trời. Và cuối cùng là… Có cái gì đó đã mất rồi. Đầu tiên là giọt sương. Sau đó là mặt trăng. Tiếp nữa là mặt trời. Và cuối cùng là… Có cái gì đó đang lộn nhào. Đầu tiên là và cuối cùng là…”. Ta đang đợi một cú đá vào mạng sườn hoặc một bạt tai từ gã bảo vệ, nhưng không, hắn ngẩng mặt ra nhìn, rồi nhìn ta, lặng lẽ gạt nước mắt. Trước khi ta bước ra cổng với cặp kính đen như hai tổ ong trên mặt, hắn nói theo: “Này, anh kia, về đi, đừng bao giờ đi xem phim ngược nữa, chim đã bay đi, người cũng đã thay hình đổi dạng, sẽ không còn gì là khảm khắc kinh cũ…”.

Mấy chữ cuối hắn nói, ta nghe không rõ, vì tiếng đám đông khán giả vừa ồ lên át mất. Chắc là phim lại đến cao trào. Ta bước đi về phía cuộc đời, không còn thấy gì nữa, ngoài một gương mặt rất quen, như thể đã từng gặp đâu đó khoảng ba trăm năm trước.

Không lẽ, ta bây giờ là ta của ba trăm năm trước hiện về? Gã bảo vệ kia, không lẽ, lại là người thân quen, từ xứ sở nào của quá khứ hiện về?

Chỉ có bộ phim trên màn ảnh rộng kia, là của ngày hôm nay.

Có cái gì đó đang vỡ ra…


Nguyễn Văn Thiện
Born: 1975
Home town: Anh Sơn – Nghệ An
Master in Comparative Literature and Critical Theories
Currently a high school teacher, and a prolific writer.
Editor of Chư Yang Sin (Đắk Lắk) Art and Literary Journal.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the poet and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.