ABODE 3: LIGHT | Lê Vĩnh Tài

Buon Ma Thuot, Vietnam. Summer 2023. Photography by Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Lê Vĩnh Tài
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm



When your moon dissolves into a triangle
There will be three facets of us
Behind the second is the image of our child

Each time the abode is sad
It draws us in through the light
Lighting up each sound cave at a time
Oh the sad triangle

Our fingers may have touched on the folds as we spin
The way a cowboy would spin the barrel of his gun
In a HBO movie that had scared you to the point of tears

But I love that red barrel
Spinning six barrel gun
Bullets firing into the dark
And only God gets to see its target…

Who could possibly master this particular lesson by God in Geometry
The aims of the triangle like a river like the sea
Where both landings are grounded flat on the earth
Where dreams are draped across meadows

Where at the tips of ten wet tired fingers the rain dances constantly through the night
God’s angelic triangle
The moon on its full cycle is often half hidden and weeping
The half reserved for the birth of all that is sacred

All poets please, don’t be surprise, because the abode will be the source of creation in the name of God
That is the birth of a poet
And this is something a poet must remember
A poet must safeguard the vernacular the way the abode safeguard the sacredness of life

Therefore, the poet’s vernacular must embody the language of gods and demons, not only in servitude of power, the poet must have the full grasp of power. Not only to just live, the poet must be the creation of life

The poet’s dedication always opens up, like the abode
Composing poetry
To Shatter
The earthly
Grass landings…


Âm hộ 3



Khi vầng trăng của em tan thành hình tam giác
Chúng ta sẽ có ba gương mặt
Sau gương mặt hai ta là hình bóng của con

Mỗi khi âm hộ buồn
Nó hút chúng ta bằng nguồn ánh sáng
Bật lên từ hang sâu
U sầu tam giác

Những ngón tay của chúng ta
Đã chạm vào nếp nhăn và xoay tròn như anh chàng cao bồi đang xoay ổ đạn
Trên bộ phim HBO làm em sợ đến chừng phát khóc

Nhưng anh thích cái ổ đạn màu hồng
Xoay tròn súng lục
Những viên đạn bắn vào bóng tối
Chỉ Chúa Trời mới ngắm được điểm rơi…

Làm sao ai có thể học được bài Hình Học này của Chúa
Cái tam giác ba chiều như biển như sông
Nơi mà cỏ hai bên bờ rạp xuống
Nơi giấc mơ phủ kín cánh đồng

Nơi cơn mưa ngâm tẩm suốt đêm bằng mười đầu ngón tay bơ phờ nhảy múa
Cái tam giác thiên thần của Chúa
Cái vầng trăng khi rằm thường khóc và khuyết đi một nửa
Một nửa để sinh ra đời tất cả những linh thiêng

Các nhà thơ đừng ngạc nhiên, bởi âm hộ sẽ làm những việc sáng tạo nhân danh Thiên Chúa
Đó là sinh ra nhà thơ
Và điều này các nhà thơ sẽ nhớ
Thi sĩ giữ gìn ngôn ngữ như âm hộ giữ gìn sự sống linh thiêng

Nên ngôn ngữ nhà thơ phải là ngôn ngữ quỷ thần, không những phục vụ quyền lực mà phải nắm lấy quyền lực. Không phải sống mà tạo ra sự sống

Sự hiến dâng của nhà thơ làm ngôn ngữ luôn luôn mở ra, như âm hộ
Làm Thơ
Vỡ bờ
Cỏ rạp…


Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Soon, I will leave, I will leave soon – Mai Tôi Đi | Nguyễn Đình Toàn

A poem in Vietnamese by Nguyễn Đình Toàn
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh


Đinh Trường Chinh, Washington DC. 9am.29.11.2023

Những ngày cuối thu, đi giữa rừng cây mùa thu trút lá, tôi không khỏi nghĩ đến một thế hệ làm nghệ thuật tài hoa của miền Nam Việt Nam trước 1975, đang dần rơi xuống…

Trong một thời gian ngắn qua, chỉ hơn 1 tháng vỏn vẹn, tôi đã được đọc, được biết bao tin buồn về sự ra đi của nhiều người trong nền nghệ thuật đó – từ Phật Giáo, đến sân khấu, hội họa, văn chương .. Như những chiếc lá vàng rục cuối cùng rơi xuống từ những cành cây mùa thu. Tôi thấy một thế hệ như dần khép lại, rơi rụng .. ít ra trong ý nghĩa vật lý. Một “rừng xưa đã khép”, khép lại dần sau gần 50 năm từ khi nền nghệ thuật ấy bị bức tử.

Nếu những cái tên sân khấu được cả người dân miền Nam yêu mến, xem như “người của mình”, như Thành Được, Tùng Lâm .. thì những cái tên như Tuệ Sỹ, Nguyễn Đình Toàn, hay trẻ hơn trong âm nhạc như Quốc Dũng, chắc chắn là những người được yêu thương và hâm mộ không kém trong thế giới của họ. Xa hơn nữa, những cái tên được nhắc lên từ mọi ngành nghề nghệ thuật như Thanh Nga, Thành Được, Út Bạch Lan, hay như Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương.., Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ ..trong Phật Giáo, Thái Tuấn, Duy Thanh, Đinh Cường .. trong hội họa, những Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu ,.. và còn rất rất nhiều nữa kể không hết. Những chiếc lá đó đã rơi xuống, từng chiếc …

Hôm qua là Nguyễn Đình Toàn.

Một thế hệ, nói theo ngoa ngữ, là một thế hệ vàng – vàng ròng. Ngày ấy, họ đã phát triển tài năng bằng thực lực thật thụ – mỗi người mỗi vẻ, không “công nghệ”, chiêu trò, hội đoàn…

Nguyễn Đình Toàn – một cái tên được nhắc lên thôi là cả một hình ảnh, giai đoạn sinh hoạt văn học nghệ thuật phong phú của miền Nam trước 1975 hiện ra trong tâm tưởng. Những nhà văn, nhà thơ, ca sĩ, nhạc sĩ , họa sĩ …thời ấy dường như đều có những tình bạn, quan hệ thuần văn nghệ, mật thiết, hỗ trợ cho nhau. Thái Thanh, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Đình Chương, Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Đỗ Long Vân,Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Đinh Cường, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Trung, và còn cả hàng chục nhân vật khác, thở trong một bầu khí quyển của văn nghệ thời thượng, pha chút hiện sinh, của giai đoạn đó. Thi ca, âm nhạc, hội họa, văn chương, song hành đẹp đẽ.

Mẹ tôi kể, ngày xưa đi với Bố vào quán Cái Chùa, La Pagode, nằm ngay góc Lê Thánh Tôn – Tự Do cũ, là gặp biết bao nhiêu bạn bè ở đó. Nếu không ngồi chung bàn với Duyên Anh, hay Cung Tiến, thì đằng xa kia, cũng Nguyễn Đình Toàn hay Nguyễn Xuân Hoàng vẫy tay chào, Mai Thảo đang cắm cúi viết, và biết bao nhiêu tao nhân mặc khách quen. Bố tôi cũng đã lê la ở đó. Dĩ nhiên là tôi chỉ nghe kể, từ lúc bé. Như lớn lên, tôi đã được nghe Mẹ kể về những cái tên như Tự Do, Đêm Màu Hồng, những buổi đi phòng trà nghe Thái Thanh, Lệ Thu hát, hay nghe Bố kể về những cuộc gặp gỡ miên man với giới văn nghệ Sài Gòn ở La Pagode. Chỉ nghe kể không đã thấy ra một không khí rất văn học – văn học trong thời chiến tranh, thời loạn.

Đó chắc chắn là một nền nghệ thuật giàu có và đã phát triển mạnh trong một bầu không khí sáng tạo tự do, trong những xúc tác văn nghệ thật sự. Nền văn học nghệ thuật ấy chưa bao giờ “được” công nhận hay đi vào lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam sau 1975, thậm chí nó còn bị âm mưu vùi dập và giết chết biết bao nhiêu lần. Còn những nhà văn, nhà thơ, các bậc chân tu kia thì đã bao lần bị bắt bớ, tù tội, kết án tử hình … Nhưng chắc chắn nó đã ăn sâu vào tâm hồn người dân Việt Nam qua bao thế hệ.

Cánh rừng nghệ thuật một thời xanh tươi phồn thịnh đang rơi từng “chiếc lá cuối cùng”, trong ý nghĩa thân xác kiếp người. Giá trị tinh thần, di sản nghệ thuật họ để lại sẽ còn đó, sẽ được tìm hiểu đúng mức, một lúc nào đó.

Nghệ thuật đích thực là thứ nghệ thuật chịu sự đọc lại, nghe lại .. và thực tế đang chứng minh điều đó thôi, cho những ai còn quan tâm và muốn tìm đến. Dĩ nhiên, tôi viết vội chút status này trong tinh thần nhớ về, chút cảm tính cá nhân, chứ không phải “tiếc nuối”.

“Ðổi áo khăn làm gió
Cho không vướng tay xuôi
Ra đi đường chắc dài
Chẳng cần gì khăn gói
May ra hồn thảnh thơi…”
(thơ Nguyễn Ðình Toàn)
Chúc Bác lên đường thảnh thơi –
Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, người làm truyền thông một thời, Nguyễn Đình Toàn.


Soon, I will leave, I will leave soon, for the dark fog
Into the flesh seeps the foggy poison of death
Our homeland descent in farewell, divided
Where to, the tearful letters

Soon, I will leave, to hopefully forget a long-lost love
Hoping that they will find their destination
Our parting, ripping the seas and heavens
Leave behind how many notes of yearning

The moon shall be cold alone from now on
Life around waterfalls and rapids
Broken mirror shattered soul
A vessel far from docking

Soon I will leave, beyond my heart the blood will continue to pour
In all corners of the world will be the prayers
May our homeland wake from its torpor
The possibility of joy upon death in exile

Mai tôi đi



Mai tôi đi tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào người nỗi chết
Quê hương ta sông chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin

Mai tôi đi mong cho tình xa quên
Mong cho người về được nơi sẽ đến
Ta chia tay, ta chia trời xé biển
Còn được bao dấu vết nhớ nhau tìm

Từ nay trăng sẽ lạnh riêng mình
Đời nghe quanh thác đổ qua ghềnh
Hồn như gương vỡ dập tan tành
Thuyền ơi từ nay xa bến

Mai tôi đi như máu chảy ngoài tim
Xin khấn nguyện cả mười phương tám hướng
Cho quê hương u mê ngày thức tỉnh
Để dù xa có chết cũng vui mừng


Nguyễn Đình Toàn first penned under Tô Hà Vân, was born September 6th, 1936 at Gia Lâm, by the Red River, outside of Hanoi, the poet and musician passed away on November 28th, 2013 at Fountain Valley, California, U.S.A. Left for South Vietnam in 1954, there he became actively involved in the arts, literature, poetry, plays, and music, in association with literary magazines like Văn, Văn học. He collaborated with Trần Phong Giao for many years in the selection of literature for Văn Magazine. He took up the position as the editor of Saigon Radio after that and became known for the Music program in the early seventies. He was captured twice after 1975 and was imprisoned in a re-education camp for nearly six years. He and his wife, Madame Thu Hồng, settled in the United States of America at the end of 1998.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Oh look, a poem by thanh dang | Thanh Dang

A poem in Vietnamese by Thanh Dang
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm

Oh look
A poem by thanh dang
Reads as delightful as flowers

Now now
A poem by thanh dang
There’s a mention of Ông Bình Vôi*

No no
A poem by thanh dang
There were these clouds drifting

Just kidding
A poem by thanh dang
“Em” can’t say…

There “em” was after reading it
Half-way up the hill, crying
A little bird was my witness.

Ô kìa
Bài thơ của thanh đặng
Đọc như là ngắm hoa

Vừa thôi
Bài thơ của thanh đặng
Có hình ông bình vôi

Không phải
Bài thơ của thanh đặng
Sao có làn mây trôi

Giởn nầy
Bài thơ của thanh đặng
Em không thèm nói đâu…

Chuyện kể rằng sau đó
Em khóc giữa lưng đồi
Có con chim làm chứng.

*Ông Bình Vôi: in folklore, a heartless monk was turned into a ceramic pot with a hole, which contained bitter mineral slaked lime paste, the lime and areca nut are then wrapped into a parcel with a betel leaf to chew as a refreshing condiment. Betel leaves are used as a stimulant, an antiseptic, and a breath freshener, whereas areca nut was considered an aphrodisiac.

Source: https://lichngaytot.com/phong-thuy/nguon-goc-ong-binh-voi-284-209174.html

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3892533/#:~:text=Betel%20leaves%20are%20used%20as,nut%20and%20mineral%20slaked%20lime.


Thanh Dang, the poet from Vietnam currently resides in Houston, Texas, U. S. A.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

“foreigners” | Thái Hạo

Vietnam by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Thái Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

Gọi nhân dân mất ngủ là thù địch
gọi kẻ tàn sát quê hương là “nước ngoài”
nỗi buồn và tình yêu là kẻ bôi nhọ
những ai gọi tên sự thật là nói xấu
ta gọi người là gì
ơi đất quê bạc màu
ta gọi nhau là gì
tháng ba này xám ngắt
con thuyền cũ nằm bờ
mơ đảo xa đã mất

những bài thơ nhảm nhí
toàn những câu què cụt
như đoàn binh thất trận
từ đảo hoang trở về
trên phố cũ gục đầu

em gọi anh là gì
tên làng mình đổi khác
Tào Sơn ơi Tào Sơn
bao cuộc hẹn đành lỡ
vì những bến không tên

Thái Hạo

they call the sleepless citizens your enemy
they call the murderers of our people “foreigners”
sadness and love equating to the sully of our dignity
anyone who speaks the truth is a traitor
what will we call then a human being
oh land and country fading into misery
what will we call each other
March today in the colour of ashes
the rusty boat shipwrecked
dreaming of an island lost

the ambivalent verses
leading to nowhere
like an army beaten
returned from an abandoned island
to a city defeated

what will you call me from now on my love
the name of our village has changed
Tào Sơn oh Tào Sơn
abandoned will be all our rendezvous
because of all the places unnamed
—–
MARCH 15, 2022


Thái Hạo, the poet and journalist currently lives in Vietnam.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

A guide on how to write | Phan Nhiên Hạo

AI

A poem in Vietnamese by Phan Nhiên Hạo
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

Write as sweetly as a nail is nailed into wood.
Write as fast as the wind through an infected village.
Write as quietly as the coal shimmering slowly at the heart of the earth.
Write with the veracity of a lion about to pounce on its prey.
Write with the care of a ship meandering through a fog in the early light.
Write with the sensitivity of a dragonfly facing a storm.
Write joy upon the sand and connect them.
Write sadness upon the water and wait for the currents to carry them away.
Write loneliness upon a lantern then patiently wait for the candle to completely burnout.
You could write as shortly as you like but don’t forget the verbs,
the stagnation causative of the flooding of each and every punctuation.
Write after the sunset but never upon the rise of the eastern light,
that’s the bewitching hour upon the return of the spirits,
in a hunt for the burnt offerings.
Write as much as possible when drunk then throw it down the river when lucid,
within the inebriation try not to exaggerate.
Write the lost of death but never invite the trumpets,
the kind of music covered in plastic that can but suffocates the dead.

Write whatever you want but write it probably
at a high melting point the vernacular slithering.
Write with the chill of a winter’s day in Oymyakon.
Write until you’re as sweaty as a day spent in a Dallol summer.
Write like the rolling meadows or New York either is fine,
but don’t wave a stick around, drunks are not blind,
even though they may barely stand up.
rite in desperation but wait for the moon to at least fall upon the church steeple.
Write with hope as though you’re waiting for your wife to give birth in Từ Dũ.
Write as though nothing was ever forgotten like six years ago,
the beautiful woman with twelve fingers in Bangkok.
Write with the imagination of a child,
listening the night long to the call of street vendors.
Write handsomely but avoid the contradicting double meanings.
Write beautifully but avoid the cheap make up.
Write amidst the crowd but independently,
wear around the neck the board “Do not disturb.”
At the square where nameless people were shot down,
note their faces in blood and not wash your hands,
until the bubbling freedom spreads like soap suds,
erases the dirty stain of history.

Hướng dẫn cách viết

Viết ngọt như đinh đóng guốc mộc.
Viết nhanh như gió qua ngôi làng dịch hạch.
Viết lặng như than đá cháy trong lòng đất.
Viết dữ như sư tử sắp tử thương.
Viết thận trọng như con tàu đi trong sương mù buổi sớm.
Viết mẫn cảm như chuồn chuồn trước cơn giông.
Viết niềm vui lên cát và nối chúng lại.
Viết nỗi buồn trên mặt nước và đợi sóng mang đi.
Viết cô đơn vào đèn lồng kiên nhẫn nhìn đến khi nến tắt.
Có thể viết ngắn nhưng đừng thiếu động từ,
sự trì đọng khiến các dấu chấm câu ngập úng.
Viết sau lúc mặt trời lặn nhưng đừng viết buổi hừng đông,
đó là thời khắc những bóng ma trở về,
trong cuộc săn lùng tiền vàng mã.
Viết thật nhiều lúc say rồi ném gần hết xuống sông khi tỉnh rượu,
trong cơn ngà ngà cố gắng tránh ba hoa.
Viết mất mát xuống cái chết nhưng đừng mời đội kèn,
loại nhạc bọc nylon khiến tử thi ngộp thở.

Viết lung tung cũng được nhưng đừng viết loàng xoàng
ngôn ngữ nên ở thể rắn và có độ nóng chảy cao.
Việt lạnh như một ngày mùa đông Oymyakon.
Viết chảy mồ hôi như đang ở Dallol mùa hè.
Viết kiểu miệt vườn hay New York đều tốt,
nhưng đừng múa gậy, dân nhậu chưa mù,
cho dù đa phần đều loạng choạng.
Viết tuyệt vọng như đợi trăng rơi xuống nóc nhà thờ.
Viết hy vọng như đợi vợ sinh trong Từ Dũ.
Viết không quên như cách đây sáu năm,
thấy người đàn bà đẹp mười hai ngón tay ở Bangkok.
Viết nhớ mơ hồ như khi nhỏ,
nghe suốt đêm dài những tiếng rao.
Viết đẹp trai nhưng tránh lối biền ngẫu.
Viết xinh gái nhưng tránh phấn rẻ tiền.
Viết giữa đám đông nhưng tự tại,
cổ nên mang bảng “Chớ quấy rầy.”
Khi trên quảng trường những người vô danh bị bắn ngã,
viết khuôn mặt họ vào máu và đừng rửa tay,
cho đến ngày tự do loang như bọt xà phòng,
tẩy trừ những vết nhơ lịch sử.


Phan Nhiên Hạo, the poet and translator born in 1967 in Kontum, Vietnam, currently works and lives in Illinois, the United States of America.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Ở cửa hàng đồng nát | Charles Simic

AI

A poem in English by Charles Simic
Translator: Lê Vĩnh Tài

Ở CỬA HÀNG BÁN ĐỒNG NÁT



một giỏ lát nhỏ
đầy nhóc những cái huy chương
từ những cuộc chiến tranh thần thánh
chẳng ai còn nhớ.

tôi lật qua lật lại một cái
để cảm nhận mũi kim
đã một thời cắm phập vào
bộ ngực sưng phồng của người anh hùng.

IN THE JUNK STORE



A small, straw basket
Full of medals
From good old wars
No one recalls.

I flipped one over
To feel the pin
That once pierced
The hero’s swelling chest.


Dušan Simić, born: on 9 May 1938, known as Charles Simic, is a Serbian American poet and former co-poetry editor of the Paris Review. He received the Pulitzer Prize for Poetry in 1990 for The World Doesn’t End, and was a finalist for the Pulitzer Prize in 1986 for Selected Poems, 1963–1983 and in 1987 for Unending Blues.

Lê Vĩnh Tài, the poet and translator born in 1966 in Buon Ma Thuot, Daklak, Vietnam. The retired doctor is still a resident of the Western Highlands and a businessman in Buon Ma Thuot.

Stages of grief – Sầu Khúc | Thanh Tâm Tuyền

Hai mảnh vỡ trong tuyết, art by Đinh Trường Chinh

A poem in Vietnamese by Thanh Tâm Tuyền
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Art: Đinh Trường Chinh

1

Late into the night love is as absent as the curtain of night
(Em)my love, weave for me the delusions
From what is left of your innocence

The crazy wind of rejection upon a day yet to rise
The loneliness discarded in broken friendships
Alone I carry the burden

The familiar tearless path
The bitterness, leaves on the pavement
The black sea around me rising

A precarious throbbing isle adrift through the night
In the unforeseen confusion floating further away
Tied it back with your hair like your unfathomable spirit
The trees are too engrossed to answer or to hold onto any kind of reverie
Don’t be too quick to throw the strings of laughter down the cold pit
On my lips see the traces of sorrow


2

Both of my dried cracked hands are out(faced up)
The sad bothersome freedom
Lining both hands are the sunburned grassy paths
The summer cauterising even loneliness
You holding on
I have nothing except death to hold onto
In the dark shadows at the stark mouth of the river
I’m searching
A small distant childhood island
When love was a clump of pathetic reeds
When the water swirled like soundless laughter at the mouth of the river
Behind and infront
The people I threw overboard drifting away

My entire body numb with exhaustion
The slimy snakes centipede leeches
Cosseted like fellow citizens
Both of my hands shaken by disbelief
Giving back what’s left of ideals
A disgusting cowardly gift
My goodbye


3

The young woman with long hair
The night cold at the mountain top
Oblivion spreading across the starry horizon
A fleeting love

The Romancero verses
The hot gitane gypsy blood
The nostalgic Blues
The cool indifferent black dude
The courtesan’s spring liaison
The dying day in your eyes
The dying day upon the burial ground
The tiny caterpillar’s buried endearment

A ballad
On her death

A ballad
About her life
A life like the cut of a sword
Time and again it bled

The bleeding eventually stopped
Turned into dripping daggers of despair
She took her last breath and died
Like a love ballad

As the night ran back and forth
Somewhere was the hum of a harmonica
I found my way there
The horns burst into tears

The yard at the train station is muddy with rain
The third class carriage
The sickly cargo train
The earthly tomb of an old horse

The worn path toward the grave
A child was blowing into a harmonica
Hair tousled in the sunset
The horns burst into tears

Saying goodbye to her I asked
You’re actually dead?
She answered from inside the coffin
Gosh the soil’s icy the rain is so cold

I found Death and demanded
Is she now free?
Death is deaf and dumb
I grabbed fists full of its hair and made it nod
Returning it to Yang(world)

4

The night you can’t sleep
Death caresses your lips with its sharp numbing fingernails
The horizon breaking into tears
Since I’ve buried the words of love at the bottom of winter
And hidden was the flame quietly consuming the memories

Were you aware? Were you aware of this(em)?

I refuse to acknowledge half of this world
A foggy world in my memories
Yearning to touch the peaks on your body
Touch(and discover) such breathing surprising entomology

Were you aware? Were you aware of this(em)?

Inside the imprisonment amidst the moaning
They cry out alone
A pile of rusty metal tipping over noisily
A headache for the guy cursing in the fence warehouse

Were you aware? Were you aware of this(em)?

As you walk through the city you stepped on the dreams of those chasing after you
Hope filling every empty space and crevices
Staring at my hands I miss the leaves in the coming dusk
Suspended in the air were the pointless cries

Were you aware? Were you aware of this(em)?

I’m burning up slowly like a sharp bough
In my marrow are the winter afternoons
The naked despair
I hope you rest in peace and Death will be patient enough to wait for the lifetimes to come

Were you aware? Were you aware of this(em)?

5

He followed the imaginary figure out to the middle of the stage. No, no one was visible. He dropped his head on this person’s shoulder and cried, no tears fell, just two lines of dense smoke came out of his nostrils turned the entire auditorium into a smokey haze choking the audience and making them cough. Stung by the smoke, some swore, how inconsiderate. His face was painted white like the wall and his lips painted pink like children’s lips. His face was all screwed up: how could I cry, tears are possible, but the skin on my face is made out of mortar, how could I possibly cry with such an unmoving face. After he finished his monologue he started to skip around the stage, one foot stepping on top of the other teasing the audience, it was amazing how he managed to stay on the stage and not fall off. Someone shouted: boring, you should do somersaults, fall over like an animal then I’ll laugh. Confused, he stood there with his arms dropped loosely by his side, and this made the audience laugh, and this confused him even more, and this made the audience laugh even louder. Then suddenly he was suspended, he swam through the air, he took all his clothes off and threw them towards the ceiling and disappeared.

Again he ran out to the middle of the stage. But this time he stood by the invisible figure, the figure was a woman, she now was the one who dropped her head on the clown’s shoulder in her imagination. She was a beautiful woman. The woman cried, as the clown pretended to cry, audibly and physically moving in exaggerated gestures. They were saying goodbye to each other, it was not possible to see them both at the same time, they were separated by a person, the person who was the clown. The whiney woman the clown whining. You damn idiot, you arrogant snob. The clown returned to his original position, pushed the woman away who was now invisible. He mimed that the woman had fallen over, at the moment on her knees holding onto his leg, he used his other leg to kick and tried to get rid of her, his chin pointed at the sky as though he was Napoleon at the battle of Waterloo. The beautiful woman dragged herself across the stage like some feeble snail, that he would pick up and throw into his bedroom. A bird came flying onto the stage, the ferocious monstrous bird landed on his shoulder, his body swayed like a statue that had lost its base. He pulled out a gun and tried to shoot backward at what was on his shoulder, the gun spitting water all over his cheeks. The monstrous bird flew away, its sharp claws flipped the clown backward, its beaks dug into his mask. The clown turned out to be Napoleon, Napoleon bit his lips and cried.

You’re nothing but a sad clown, the saddest clown in the world who couldn’t make anyone laugh.

6

Like a leafless forest
Breathing through dried branches
A sweet dream turned mad for no reason at all

Removing each burning layer of hair at a time
Staring into each other’s eyes
Bruised dark eyes like a bite mark

Noon the colour of Minh Châu(brilliant gem)
The sky unspeakably narrow

The prison endlessly travelling
The silent walls moving
At the precipice of an abyss

The tiny vales in the arid hands
Bearing traces of love
The (cause of my) distractions

The hint of a scent on bitter lips
As though Minh Châu was here still

7

I’ve turned into a dream
Upon a grass strewn path you return
The soul of ancient hair from the bottom of a sound grave
No one knew we loved each other
The goodbyes in nowhere land
What eyes could possibly see
Each word exchanged was a flame
Burning sinful memories

I’ve abandoned life
The dawn the afternoons
An entire horizon of longing
On fingers are the caress
On your face is the tenderness
The air of an embrace
The blood bleeding moments
I’ve abandoned everyone
Those as beautiful as hope
Those I’ve loved like my country
Those who were my enemies in this lifetime
Those who were my kindred spirits

You’re dead dead
In the extreme silence
The boundless emptiness
The epitome of despair
Gosh tonight tonight tonight
The stabbing tossing and turning
Inside the dark rock strewn hole
Crushing you is the pain
I am nothing but a dream

You alone knew
We’ve loved each other
I will throw it all back
All the tears all the laughter
All the wisdom of a beating soul
Back to the historical chasmic jungle of humanity

Meet you there
The thunderstorms for how many days
The path across the Sun
The distance of our separation
=

SẦU KHÚC

1

Đêm về khuya tình đã vắng như màn trời
Này em đan cho anh những ảo tưởng
Với ngây thơ nào em còn sót

Ngày chưa lên gió cuồng trong hắt hủi
Bạn bè chia tay ném bỏ lại cô đơn
Một mình anh mang nặng

Con đường quen anh bước vào con mắt ráo hoảnh
Và chua cay rơi lá rụng trên hè
Vùng biển đen dâng chùm anh tịch mịch

Nỗi đêm im bập bềnh hòn đảo nổi
Bỗng trôi đi bàng hoàng
Hãy trói lại bằng tóc xoã như hồn em ngơ ngác
Cây mải miết không thưa rời lưu luyến
Đừng vội ném chuỗi cười xuống huyệt lạnh
Trên môi anh cúi nhìn dấu tích mối sầu

2

Anh chìa hai bàn tay khô héo
Nỗi tự do buồn phiền
Hai bàn tay những con đường cỏ cháy
Mùa hè thiêu đốt cả cô đơn
Em giữ lấy
Anh còn đâu ngoài nỗi chết ôm ghì
Trong bóng đen trơ trụi nơi vàm sông
Anh tìm kiếm
Tuổi ấu thơ hòn cù lao xa khuất
Và tình yêu như đám lau buồn
Vàm sông nước xoáy như tiếng cười thầm
Ở sau lưng ở trước mặt
Anh thả người trôi nổi

Toàn thân anh rũ liệt
Những loài rắn rết đỉa nhờm
Nâng niu như đồng loại
Anh vẫy hai bàn tay chới với
Gửi lại niềm trong trắng sót thừa
Tặng phẩm đớn hèn
Anh từ biệt

3

Người con gái tóc dài
Đêm lạnh trên đầu núi
Trời sao chừng lãng quên
Câu chuyện tình ngắn ngủi

Khúc romancero
Chàng gitan máu nóng
Nostagic Blues
Chàng mọi đen lạnh lùng
Khúc xuân tình kỹ nữ
Là chiều nơi mắt em
Là chiều nơi nghĩa địa
Sâu nhỏ chôn chuyện tình

Đây là một bài ca
Kể rằng nàng đã chết

Đây là một bài ca
Kể rằng nàng đã sống
Cuộc đời như vết chém
Máu chảy xuối từng hồi

Máu chảy mãi rồi ngừng
Thành lời than ri rỉ
Nàng hấp hối và chết
Như một bài ca thương

Khi đêm chạy trở lui
Người nào thổi harmonica
Tôi đến bằng mọi cách
Tiếng kèn khóc oà

Mưa bẩn sân ga
Toa tàu hạng ba
Chuyến xe hàng ốm yếu
Thổ mộ con ngựa già

Đường mòn đưa đến huyệt
Đứa trẻ con thổi harmonica
Trong hoàng hôn tóc rối
Tiếng kèn khóc oà

Từ biệt nàng tôi hỏi
Em đã chết rồi chăng?
Trong quan tài nàng đáp
Ôi đất lạnh mưa băng

Tôi tìm thần chết hỏi
Nàng được tự do chăng?
Thần chết câm và điếc
Tôi nắm tóc bắt gật đầu
Và trở về dương thế

4

Đêm nào em không ngủ
Cái chết vuốt ve môi em bằng những móng tay buốt sắc
Bầu trời sắp tan vào nước mắt
Bởi anh mang nhốt lời yêu đương trong đáy mùa đông
Và dấu ngọn lửa âm thầm huỷ thiêu ký ức

Em biết không? Em biết không?

Anh chối từ một nửa thế giới
Thế giới sương mù trong trí nhớ
Muốn chạm vào đỉnh nào bén nhọn của thân em
Anh đụng tới loài côn trùng kinh hoàng đang thở

Em biết không? Em biết không?

Trong ngục tù giam giữ những than van
Người ta kêu một mình
Thành tiếng động dửng dưng đống sắt rỉ hoen rơi đổ
Não óc anh hàng chấn song nguyền rủa

Em biết không? Em biết không?

Khi em đi qua những đường phố dẫm nát những giấc mộng theo đòi
Hy vọng dội lên trong mọi hồi trống rỗng
Anh ngắm hai bàn tay anh nhớ tàn lá về chiều
Khóc thờ ơ ngoài không trung

Em biết không? Em biết không?

Anh đốt dần xác thịt như cành nhọn
Giữa chiều mùa đông ở đây trong cốt tuỷ
Tuyệt vọng trần truồng
Anh mong em ngủ yên thần chết kiên nhẫn chờ trọn kiếp

Em biết không? Em biết không?

5

Hắn bước ra giữa sân khấu dìu theo một bóng hình tưởng tượng. Không, không một bóng hình trong suốt. Hắn gục đầu vào vai người ấy mà khóc, không nước mắt, chỉ thấy hai luồng khói đục thở ra theo lỗ mũi mờ mịt cả gian phòng làm sặc sụa khán giả. Nhiều người cay chảy nước mắt nguyền rủa trò đùa vô ý thức. Mặt hắn bôi vôi trắng như tường môi hồng như trẻ con. Hắn nhăn nhó: tôi làm sao khóc được, lệ buồn có thể nhỏ, nhưng da mặt làm bằng vữa, tôi làm sao khóc được trên khuôn mặt bất động này. Nói xong hắn nhảy chân sáo, quấn cẳng vào nhau mà không ngã xuống sàn trêu chọc khán giả. Một người la: trò hề mày nhạt lắm, mày phải ngã lộn mèo như con vật nào thảm hại nhất cho tao cười với chứ. Hắn ngơ ngẩn, đứng im hai tay buông thõng, người ta cười, hắn không hiểu, người ta cười. Hốt nhiên người hắn bay lên lơ lửng và bơi trong không khí, hắn ném bỏ hết quần áo bốc mãi lên trần rồi biến mất.

Hắn lại chạy ra giữa sân khấu. Lần này hắn đứng về phía bóng hình trong suốt, đó là một người đàn bà, gục đầu vào vai tên hề bây giờ thành tưởng tượng. Đó là một người đàn bà thật đẹp. Người đàn bà khóc, tên hề đang đóng trò, khóc nức nở. Họ đang chia tay nhau, không thể nhìn thấy hai người cùng một lúc, họ ngăn cách nhau bởi chỉ có một người, người độc nhất là tên hề. Người đàn bà thở than ấy tên hề than thở. Đồ ngu dốt khốn nạn, đồ kiêu căng hợm hĩnh. Tên hề trở về vị trí của hắn, giơ tay xô mạnh người đàn bà đẹp đã hoá ra trong suốt. Hắn ra dấu với khán giả người đàn bà đã ngã, đang quỳ mọp níu chân hắn, hắn lấy chân đá hất, mặt ngửng lên lấy dáng thiểu não của đại đế Napoléon trong trận chiến Waterloo. Người đẹp đang lết lại gần như con sên hèn yếu, hắn cầm lên tay và liệng vào buồng. Một con chim bay ra, con dị điểu dữ tợn đáp xuống vai hắn, thân hắn nghiêng ngả như một pho tượng mất đế. Hắn rút trong người lấy khẩu súng và bắn ngược lên vai, khẩu súng phun nước lên hai gò má. Con dị điểu bay lên, móng sắc lột ngược y phục của tên hề, mỏ mổ lấy mặt nạ. Tên hề hiện nguyên hình là Napoléon, Napoléon mắm môi đang khóc.

Mày chỉ là tên hề buồn, tên hề buồn nhất thế giới chẳng làm ai cười nổi.

6

Như rừng cây trụi lá
Thở bằng cành khô
Cơn mộng hiền lành trở nên điên dại

Gỡ những lần tóc cháy
Nhìn vào mắt nhau
Con mắt thâm quầng như vết cắn

Trưa một màu Minh Châu
Trời hẹp hòi khôn kể

Phiêu lưu mãi là một nhà tù
Dãy tường câm chuyển động
Trên một triền vực sâu

Vũng nhỏ giữa bàn tay khô héo
Mang dấu tích tình yêu
Là những niềm bối rối

Chút hương trong miệng đắng
Như Minh Châu còn đây

7

Anh trở thành giấc mộng
Đường cỏ hoang em trở về
Đáy huyệt sâu hồn tóc cũ
Không ai biết chúng ta yêu nhau
Cuộc biệt ly nơi hư không
Con mắt nào ngó thấy
Mỗi lời như ngọn lửa
Đốt những kỷ niệm tội lỗi

Anh bỏ trống hết cuộc đời
Những buổi chiều ban mai
Những nhớ nhung bầu trời
Những vuốt ve trên bàn tay
Âu yếm trên da mặt
Không gian trong tay ôm
Thời gian trong máu chảy
Anh bỏ trống hết mọi người
Những người đẹp như hy vọng
Những người thân như quê hương
Những kẻ thù một kiếp
Những bạn bè không rời

Em đã chết đã chết
Trong im lặng hết thảy
Hằng hà nỗi trống không
Của đỉnh cùng tuyệt vọng
Ôi đêm nay đêm nay đêm nay
Lăn lộn cùng gai góc
Trong hốc đá tối tăm
Đớn đau ghì lấy em
Anh chỉ là giấc mộng

Một mình em vẫn biết
Chúng ta đã yêu nhau
Rồi anh sẽ ném trả
Hết nước mắt hết giọng cười
Hết phách hồn trí tuệ
Cho rừng sâu lịch sử loài người

Đến gặp em chốn ấy
Trời mưa giông bão bao nhiêu ngày
Con đường băng thái dương
Khoảng chúng ta cách biệt.



Thơ, trích từ LIÊN, ĐÊM MẶT TRỜI TÌM THẤY (1964)


Thanh Tâm Tuyền (1936-2006), real name Dư Văn Tâm, was a poet, as well as critic, editor, fiction writer, and playwright. He was born in Vinh, moved to Saigon in 1954, emigrated to the US in 1983, and died in Minnesota in 2006. (Source: Wikipedia)

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.

Still game | Tản Đà

Nguyễn Thị Phương Trâm

A poem in Vietnamese by Tản Đà
Translator: Nguyễn Thị Phương Trâm
Photography: Nguyễn Thị Phương Trâm

I’m sick of life who knew
If life’s interested in me, I’m game.
Till I’m bored to death, till sick is life,
When life is sick of each other, I’ll stop.

I.e. I’ll end it before you can even stop me,
If life still has me, then I’ll play.
People have been in the game a whole life,
I’ve but lived half a life.

At Half a lifetime, the peak of my game,
The most I will get out of life.
Is there anyone like me,
Playing with words endlessly.

Play with words to the height of ecstasy
Illuminating life via a fresh piece of the moon.
A new contemporary literary national movement,
Like a new moon, I am game.

A literary village lack lustre in competition,
Clandestine, like me and life.
Me and life forever clandestine,
The idea of ending it, life won’t let it slide.

This clandestine life refuses to let go,
Dare I travel far to betray life.
Absent for so long, life will miss me,
Missing life, I’m eager, I’ll play.

I’ll play on past this half life,
Life’s yet halved, why would I let it go.
If I let it go, sad it will be for me,
Sad for life, less a friend.

Who’s out there is life’s friend?
Why be absent, at least participate?
No one will wait forever, who’s out there?
Or be that bored that life won’t be interested?

Like everyone else: I’m also bored with life,
Life’s losing another friend, who’s left to play?
Life shouldn’t be so boring yet,
As for being bored of the old days, I’m done.

I can still recall the time I was half bored,
After some thought I was still game.
Obsessed with the game to the point of secrecy,
Life continues to give, how could I deny life.

How old am I to be pondering about life,
Life’s like that, how dare I end it.
Still life, still I, still the endless play,
Game until there’s more money to play.

I want to play until the very end of life,
If life never truly ends; I won’t stop.
It doesn’t matter if my life is fast or long!
Long or fast, I will play.

In a hundred years, I’ll play just as hard,
Begrudge, a million, a thousand years of never ending life.
There was a time life had cried for me.
If life did not cry, I would still play.

A hundred years just like that,
Beyond a hundred years, I assured life.
Begrudge, a million, a thousand years of life missing me.
I would let it go, I would play with life.

The pen had enough, but on is the game,
Write another line for fun, ask life:
Where will this “glorious end” come from?
Can it be drawn or not? I challenged life.

Còn Chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời,
Ðời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Ðời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi.

Nói thế, can gì tớ đã thôi,
Ðời đương có tớ, tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả,
Như tớ năm nay mới nửa đời.

Nửa đời chính độ tớ đương chơi,
Chơi muốn như sao thật sướng đời.
Người đời ai có chơi như tớ,
Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.

Chơi văn sướng đến thế thì thôi,
Một mảnh trăng non chiếu cõi đời.
Văn vận nước nhà đương buổi mới,
Như trăng mới mọc, tớ còn chơi.

Làng văn chỉ thiếu khách đua chơi,
Dan díu, ai như tớ với đời.
Tớ đã với đời dan díu mãi,
Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi.

Ðời đương dang díu, chửa cho thôi,
Tớ dám xa xôi để phụ đời.
Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ,
Nhớ đời, nên tớ vội ra chơi.

Tớ hãy chơi cho quá nửa đời,
Ðời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.
Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,
Buồn cả cho đời vắng bạn chơi.

Nào những ai đâu, bạn của đời?
Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi?
Chớ ai chờ mãi, ai đâu tá?
Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi?

Nếu tớ như ai: cũng ngán đời,
Ðời thêm vắng bạn, lấy ai chơi?
Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán,
Nếu ngán thời xưa tớ đã thôi.

Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời,
Nghĩ đi, nghĩ lại, lại ra chơi.
Mê chơi cho tới thành dan díu,
Ðời dẫu cho thôi, tớ chẳng thôi.

Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời,
Nghĩ đời như thế, dám nào thôi.
Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi,
Chơi mãi cho đời có bạc chơi.

Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,
Ðời chưa thật mãn; tớ chưa thôi.
Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng!
Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.

Trăm năm, tớ độ thế mà thôi,
Ức, triệu, nghìn năm chửa hết đời.
Chắc có một phen đời khóc tớ.
Ðời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.

Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi,
Ngoài cuộc trăm năm, tớ dặn đời.
Ức, triệu, nghìn năm đời nhớ tớ.
Tớ thôi, tớ cũng hãy cùng chơi.

Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi,
Viết thêm câu nữa, hỏi đời chơi:
“Lộng hoàn”này điệu từ đâu tới?
Họa được hay không? Tớ đố đời.


Tản Đà, the poet was born Nguyễn Khắc Hiếu on 19 May 1889 in Ba Vi, died on 7 June 1939 in Hanoi, Vietnam. He used both traditional Sino-Vietnamese forms and European influences and was a transitional figure between the turn of the 1890s such as Tú Xương and Nguyễn Khuyến and the “New Poetry” movement of the 1930s.

Nguyễn Thị Phương Trâm, the blogger, poet, and translator, was born in 1971 in Phu Nhuan, Saigon, Vietnam. The pharmacist currently lives and works in Western Sydney, Australia.